|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HN&GD-ST
Ngày: 25 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Chắc
- Ông Danh Lươl
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 139/2024/TLST - HN&GĐ ngày 29/7/2024 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 123/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm: 1987.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Ú, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2024 quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N trình bày: Vào năm 2005 chị và anh Lê Văn Ú tổ chức lễ cưới đến ngày 13/01/2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh Ú có mối quan hệ với người phụ nữ nữ khác, chị và anh Ú đã ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Do vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Ú.
Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Thị Minh T (nữ), sinh ngày 15/10/2006, Lê Minh N1 (nam), sinh ngày 13/8/2018, Lê Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2023, cháu T đã trưởng thành chị không yêu cầu giải quyết, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Minh N1, Lê Minh Q, chưa yêu cầu anh Ú cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận chưa yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại văn bản ngày 11/9/2024 bị đơn anh Lê Văn Ú trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn là đúng. Anh và chị N thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân mâu thuẫn chị N trình bày là không đúng. Nay chị N yêu cầu ly hôn anh không đồng ý.
Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Thị Minh T (nữ), sinh ngày 15/10/2006, Lê Minh N1 (nam), sinh ngày 13/8/2018, Lê Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2023, anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Minh N1, Lê Minh Q, chưa yêu cầu chị N cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận chưa yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Lê Văn Ú đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lê Văn Ú.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng N và anh Lê Văn Ú tổ chức lễ cưới vào năm 2005, đến ngày 13/01/2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Ú là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị N và anh Ú chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên toà chị N trình bày là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn phù hợp, anh Ú có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không có kết quả, chị N và anh Ú đã ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Quá trình ly thân chị N không có thiện chí hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng với anh Ú, chị N yêu cầu ly hôn anh Ú không đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng giữa chị N và anh Ú nhưng tại phiên toà chị N vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Ú. Điều đó cho thấy tình nghĩa vợ chồng giữa chị N và anh Ú không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị N và anh Ú có 03 con chung tên Lê Thị Minh T (nữ), sinh ngày 15/10/2006, Lê Minh N1 (nam), sinh ngày 13/8/2018, Lê Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2023, chị N trình bày cháu T đã trưởng thành hiện đã đi làm nên không yêu cầu giải quyết. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Minh N1, Lê Minh Q chưa yêu cầu anh Ú cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi cháu N1, Q sinh ra đến nay thì con chung đều do chị N và anh Ú nuôi dưỡng, từ khi chị N và anh Ú ly thân tháng 3/2024 đến nay thì cháu N1, Q do chị N nuôi dưỡng. Để không làm xáo trộn cuộc sống hàng ngày của cháu N1, Q nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lê Minh N1, Lê Minh Q cho chị Ú nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị N chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.
[5] Về tài sản chung: Tự thoả thuận chưa yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Chị N, anh Ú khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Hồng N. Cho chị Lê Thị Hồng N được ly hôn với anh Lê Văn Ú.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Minh N1 (nam), sinh ngày 13/8/2018, Lê Minh Q (nam), sinh ngày 09/7/2023 cho chị Lê Thị Hồng N nuôi dưỡng, anh Lê Văn Ú chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Lê Văn Ú không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận chưa yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Thị Hồng N, anh Lê Văn Ú khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai thu số 0010169 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Chị N đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/9/2024. Anh Lê Văn Ú được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 108/2024/HN&GD-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 108/2024/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị n yêu cầu ly hôn với anh u
