Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Thành Hiếu
  • 2. Ông Bùi Nhiên – Bí thư Xã Đoàn Hàm Đức

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/NGUYỄN ĐÌNH MINH ĐỨC

- sinh năm 2002; Tên gọi khác: Bé H; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động biển. Cha: Nguyễn Đình N, sinh năm 1974; Mẹ: Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1976; Hiện cả hai là lao động biển và trú khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 02 anh em, bị cáo Đ là con thứ nhất. Tiền án: Không.Tiền sự: Ngày 01/3/2022, Nguyễn Đình Minh Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong quyết định ngày 26/4/2023. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh B. Có mặt.

2/NGUYỄN DUY NAM

– Sinh ngày: 13/10/2007; Tên gọi khác: N, B; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Cha: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1980; Hiện đang làm nông và trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Mẹ: Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1989; Hiện lao động tự do và trú tại thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 22/5/2024, Nguyễn Duy N1 bị Chủ tịch UBND xã H, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.250.000đ về hành vi: Trộm cắp tài sản. Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong một vụ án khác từ ngày 09/7/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

*Người đại diện theo pháp luật và bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy N1:

Ông Nguyễn Đức T1 – sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận

*Người bị hại:

  1. Nguyễn Ngô Đình N2 - sinh năm 1997 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn 3, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc - Bình Thuận

  3. Cao Minh An – sinh năm 1990 (có mặt)
  4. Nguyễn Thế Tĩnh – sinh năm 2000 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H - Bình Thuận

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị Thu Thanh – sinh năm 1978 (có mặt)
  2. Nguyễn N – sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

*Người làm chứng:

Nguyễn Minh S – sinh năm 2011 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 02/7/2024, Nguyễn Đình Minh Đ (Bé H), sinh năm 2002, trú tại khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận điều khiển xe mô tô biển số 86C1-957.89 đến nhà của Nguyễn Minh S (là em họ của Đ), sinh năm 2011, ở khu phố H, phường Đ chơi. Tại đây, Đ nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán để lấy tiền tiêu xài nên Đ gặp Nguyễn Duy N1 (N, B), sinh ngày 13/10/2007 (16 tuổi, 8 tháng, 19 ngày), trú tại thôn P, xã H, huyện H. Đ hỏi N1: “mày có đi không mày?”, N1 hỏi: “đi đâu anh?”, Đ nói: “đi kiếm xe”, N1 hiểu Đ rủ đi trộm cắp xe mô tô của người khác nên đồng ý đi. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô 86C1-957.89 chở N1 chạy theo Quốc lộ A tìm kiếm xe mô tô để lấy trộm. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, Đ chở N1 chạy đến Ngã 3 S, thuộc xã H, huyện H và tiếp tục rẽ trái về hướng đi thị trấn M khoảng 01km thì phát hiện trên sân nhà của anh Nguyễn Ngô Đình N2, sinh năm 1997, trú tại thôn C, xã H, huyện H có 01 xe mô tô biển số 86B3-392.60, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh - đen (do N2 làm chủ sở hữu), trên xe có gắn sẵn chìa khoá. Đ dừng xe lại và giao xe mô tô biển số 86C1-957.89 cho N1 đứng chờ, Đ đi bộ vào sân nhà lén lút dắt trộm xe mô tô 86B3-392.60 ra ngoài đường, đề nổ máy rồi điều khiển chạy về lại thành phố P, N1 điều khiển xe mô tô 86C1-957.89 chạy theo sau. Cả hai đưa xe mô tô 86B3-392.60 về nhà ông Nguyễn Ngọc N3 (là cậu ruột của N3), sinh năm 1985, trú tại khu phố H, phường Đ. Tại đây, Đ dùng cái khóa 10 tháo rời đuôi xe có gắn biển số 86B3-392.60 ra khỏi xe và đem đi cất giấu ở bờ Sông C. Sau đó, Đ đi vào chòi võng nhà ông N3 ngủ, còn N3 đi đến nhà S. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, N3 đến gặp Đ, Đ tiếp tục rủ N3 đi tìm xe để lấy trộm thì N3 đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô 86C1-957.89 mang theo một cái khoá 10 bỏ trong giỏ đeo bằng da màu đen chở N3 chạy theo Quốc lộ B lên khu vực huyện H. Khi đến khu vực thôn B, xã H, huyện H, N phát hiện tiệm sửa xe Honda “Thế Tĩnh” do anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã H làm chủ, có để nhiều xe mô tô, N3 nói với Đ: “em thấy có một người để xe Exciter vào trong tiệm kéo cửa sắt lại”, Đ hỏi: “phải không mày?”, N3 trả lời: “phải anh à, thôi tối hai anh em mình lên kiếm chiếc nữa để hai anh em mình đi”, cả hai hẹn nhau đến khoảng 23 giờ thì tập trung đi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ mang theo 01 cây kìm thủy lực, loại cắt kim loại dài 35cm, có bọc nhựa màu đỏ - đen rồi đi bộ đến bờ Sông C gặp N3. Đ điều khiển xe mô tô 86B3-392.60 (đã tháo biển số) chở N3 chạy theo Quốc lộ B đến tiệm sửa xe “Thế Tĩnh”. N3 đứng ngoài đường cảnh giới và giữ xe, Đ đi vào dùng kìm thuỷ lực cắt 02 ổ khoá trên cửa sắt, dùng tay đẩy mở cửa sắt vào bên trong tiệm rồi Đ gọi N3 vào phụ giúp. N3 đi vào nhìn thấy 80.000đ để trên rổ nên lấy cất vào túi quần và cùng Đ đưa xe mô tô 86B6-230.55, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen (do anh Cao Minh A, sinh năm 1990, ở thôn B, xã H làm chủ sở hữu, đưa đến tiệm để nhờ anh T2 sửa) ra ngoài đường. Đ mở khoá điện để khởi động xe nhưng không nổ máy, Đ điều khiển xe mô tô 86B3-392.60 (đã tháo biển số) dùng chân đẩy xe mô tô 86B6- 230.55 do N3 điều khiển về lại thành phố P. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 03/7/2024, khi về đến khu vực bờ Sông C, thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố P. Tại đây, Đ dùng khoá 10 mang theo tháo dây điện ra, kích hoạt cho xe 86B6- 230.55 nổ máy, sau khi nổ máy xe thì Đ bỏ cái khoá 10 vào trong giỏ đeo bằng da màu đen của Đ mang theo ném xuống Sông C. Sau đó, N3 và Đ mỗi người một xe điều khiển đi lòng vòng ở khu vực thành phố P và sử dụng 80.000đ để uống cà phê rồi đem 02 xe trộm cắp được về cất giấu tại khu vực bờ Sông C, thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố P. Sau khi bị mất xe mô tô, anh Nguyễn Ngô Đình N2 đến Công an xã H và anh Cao Minh A đến Công an xã H trình báo sự việc. Qua xác minh, Công an xã H đã mời Nguyễn Đình Minh Đ làm việc thì Đ khai nhận đã cùng Nguyễn Duy N1 thực hiện hành vi trộm cắp như trên nên Công an xã H tiến hành thu giữ 02 xe mô tô do Đ và N1 trộm cắp.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án, ngày 03/7/2024 Nguyễn Duy N1 còn thực hiện hành vi “Cướp tài sản” tại khu vực khu phố A, phường P, thành phố P. Hiện vụ án này, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt khẩn cấp đối với N1 (vụ án đang trong giai đoạn điều tra theo thẩm quyền).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện H

kết luận về giá trị tài sản bị trộm cắp như sau: 01 xe mô tô biển số 86B3-392.60, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen - xanh - bạc có giá trị 15.500.000đ. 01 xe mô tô biển số 86B6-230.55, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn vàng - đen có giá trị 20.200.000đ. Tổng giá trị 02 xe mô tô trên qua định giá là 35.700.000 đồng.

Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:

Xe mô tô biển số 86B6-230.55; 86B3-392.60; 01 ổ khoá màu đen (loại khoá số) bị cắt đứt phần quai móc khoá và 01 ổ khoá màu đỏ (loại khoá số) bị cắt đứt phần quai móc khoá. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã xử lý vật chứng, giao trả lại lần lượt cho ông Cao Minh A, Nguyễn Ngô Đình N2, Nguyễn Thế T2 là các chủ sở hữu theo đúng quy định. Riêng 01 cây kiềm thủy lực, dài 35cm, có bọc nhựa màu đỏ - đen, là vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý. Đối với xe mô tô biển số 86C1-957.89 do bà Huỳnh Thị Thu T (mẹ của Nguyễn Đình Minh Đ) là chủ sở hữu. Ngày 02/7/2024, Đ dùng xe này làm phương tiện thực hiện tội phạm nhưng bà T không biết nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã trả lại xe cho bà T. Đối với 01 đĩa DVD có chứa 01 đoạn video clíp được ghi lại hình ảnh Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/7/2024, tại tiệm sửa xe “Thế Tĩnh”, thuộc thôn B, xã H, huyện H được chuyển theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 cái khóa 10 mà Nguyễn Đình Minh Đ dùng để mang theo đi trộm, tháo đuôi xe và tháo dây điện để kích hoạt nổ máy xe, Đ khai đã vứt bỏ xuống Sông C nên không thu giữ được.

Về dân sự:

Sau khi nhận lại xe mô tô biển số 86B6-230.55, anh Cao Minh A không có yêu cầu bồi thường gì. Riêng anh Nguyễn Ngô Đình N2 sau khi nhận lại xe mô tô biển số 86B3-392.60 thì yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng với số tiền 1.100.000đ (có chứng từ kèm theo). Đến nay, Nguyễn Đình Minh Đ đã bồi thường số tiền 1.100.000đ cho Nguyễn Ngô Đình N2 và bồi thường cho anh Nguyễn Thế T2 số tiền 80.000đ.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSHTB ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điểm g, o Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn Đình Minh Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn Duy N1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 nói lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy sai xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện H; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Trong ngày 02/7/2024, Nguyễn Đình Minh Đ đã rủ Nguyễn Duy N1, sinh ngày 13/10/2007 (tính đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi, 8 tháng, 19 ngày) nhiều lần, liên tiếp cùng nhau trộm cắp xe mô tô biển số 86B3-392.60, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen - xanh - bạc tại nhà của anh Nguyễn Ngô Đình N2, ở thôn C, xã H, có giá trị 15.500.000đ. Sau đó, Đ và N1 tiếp tục cùng nhau đi đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Thế T2, ở thôn B, xã H lấy trộm số tiền 80.000đ của anh T2 cùng chiếc xe mô tô biển số 86B6-230.55, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn vàng - đen của anh Cao Minh A, có giá trị 20.200.000đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 35.780.000đ. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng Nguyễn Đình Minh Đ đã bồi thường cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về hình phạt: Xuất phát từ bản chất tham lam nên ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ rủ bị cáo Nguyễn Duy N1 đi trộm cắp tài sản thì N1 đồng ý, cả hai bị cáo đến nhà anh Nguyễn Ngô Đình N2 thấy xe mô tô biển số 86B3-392.60 không ai trông coi lén lút chiếm đoạt, sau đó đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Thế T2 ở thôn B, xã H cậy cửa vô lấy xe mô tô biển số 86B6-230.55 và số tiền 80.000đ. Hành vi của các bị cáo là đồng phạm với nhau, rất liều lĩnh đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải xử phạt cho các bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Xét bị cáo Nguyễn Duy N1 lúc phạm tội bị cáo là người chưa đủ mười tám tuổi nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

[6] Về Trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại xe mô tô biển số 86B6-230.55, anh Cao Minh A không yêu cầu bồi thường gì. Riêng anh Nguyễn Ngô Đình N2 sau khi nhận lại xe mô tô biển số 86B3-392.60 thì yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng với số tiền 1.100.000đ (có chứng từ kèm theo). Đến nay, Nguyễn Đình Minh Đ đã bồi thường số tiền 1.100.000đ cho Nguyễn Ngô Đình N2 và bồi thường cho anh Nguyễn Thế T2 số tiền 80.000đ, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên Tòa không xem xét giải quyết nữa.

[7] Các vấn đề khác: Đối với bà Huỳnh Thị Thu T không biết việc Nguyễn Đình Minh Đ sử dụng xe mô tô 86C1-957.89 của bà T để đi trộm cắp tài sản nên không đủ căn cứ để xử lý bà Huỳnh Thị Thu T đồng phạm với Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đối với việc Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 sau khi lấy trộm xe mô tô 86B3-392.60 của Nguyễn Ngô Đình N2 đem về nhà ông Nguyễn Ngọc N3 nhưng ông N3 không biết nên không xử lý về tội: “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo 323 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm g, o Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ (tên gọi khác: Bé H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Đình Minh Đ (tên gọi khác: Bé H) 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giam 06/7/2024.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N1 (tên gọi khác: N, B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Duy N1 (tên gọi khác: N, B) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ vào: điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình Minh Đ và Nguyễn Duy N1 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Ung Thanh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 108/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger