Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Lương Công Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Đinh Trọng Thiện B, sinh ngày 29/4/1989 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: đạo Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Kim H (chết) và bà Đào Thị Kim N, sinh năm 1955; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2014, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự.

Nhân thân: Ngày 20/4/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; Ngày 03/9/2008, bị Ủy ban nhân dân tỉnh P ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản, đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng; Ngày 04/5/2021, bị Công an phường P, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự khu dân cư; Ngày 14/6/2021, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và không giao nộp vũ khí theo quy định.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đào Thị Kim N, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966; Địa chỉ: B N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  3. Vợ chồng ông Bùi Văn T1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị Mỹ H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Ông Đinh Trọng Kinh K, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Bà Đoàn Thị Mộng Đ, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  3. Ông Đỗ Tuấn A, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  4. Bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  5. Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  6. Vợ chồng ông Phạm B1, sinh năm 1964 và bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1970; Địa chỉ: A T, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Ông B1 có mặt tại phiên toà, bà H2 vắng mặt tại phiên toà.
  7. Ông Đinh Thành Đ1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  8. Bà Huỳnh Thị C1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  9. Ông Đặng Văn H3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  10. Ông Lê Tấn L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  11. Ông Trần Đức C2, sinh năm 1960; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  12. Bà Lê Thị G, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  13. Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1983; Địa chỉ: B Y, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  14. Ông Phạm Anh N1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  15. Ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 53 phút, ngày 22/11/2023 tại khu vực người dân thường xuyên diễn ra hoạt động mua bán tôm ở trước số nhà A đường Y, thuộc khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên, các ông Nguyễn Văn T, ông Đinh Thành Đ1 cùng 11 người khác đang tập trung mua bán tôm. Bị cáo Đinh Trọng Thiện B đến gặp ông Nguyễn Văn T nói lớn tiếng “Ai cho mấy ông mua bán tôm ở đây” và có lời nói chửi bới, đe dọa mọi người. Vì sợ ảnh hưởng đến việc bán tôm nên ông Nguyễn Văn T đến gặp bị cáo nói chuyện và lấy tôm đưa cho bị cáo, nhưng bị cáo không nhận mà bỏ về nhà của bị cáo. Một lúc sau, bị cáo tiếp tục quay lại nói lớn tiếng la ó, chửi bới nên ông Nguyễn Văn T đưa bị cáo về lại nhà, bị cáo vẫn tiếp tục la lớn tiếng. Khoảng 23 giờ 16 phút cùng ngày, bị cáo quay lại chỗ mua bán tôm nói lớn tiếng, chửi bới thì được ông Đinh Thành Đ1 đến dẫn bị cáo về khu vực trước nhà bị cáo. Tại đây, bị cáo có hành vi chửi bới ông Đinh Thành Đ1 và rút 01 khẩu súng ngắn bắn đạn cao su bắn 04 phát lên trời gây tiếng nổ, ông Đinh Thành Đ1 bỏ đi lại chỗ cân tôm. Khoảng 23 giờ 21 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục quay lại khu vực mua bán tôm nói lớn tiếng chửi bới và khoảng 06 phút sau, bị cáo dùng khẩu súng bắn đạn cao su bắn tiếp 01 phát gây tiếng nổ để hù doạ làm cho mọi người hoảng sợ, bỏ chạy, dừng hoạt động mua bán tôm, còn bị cáo bỏ đi về nhà. Sau khi xảy ra sự việc, nhận được tin báo của người dân, Cơ quan Công an đã đến hiện trường thu giữ 02 vỏ đạn trước nhà của bị cáo và 01 viên đạn, 01 vỏ đạn trước số nhà A đường Y, thuộc khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Tại Kết luận giám định số 623 ngày 25/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng ở đít đạn có cùng số hiệu “YAS GLD 9mm PAK” là vỏ đạn của loại đạn cao su thuộc cỡ đạn (9mm PAK) và 01 viên đạn bằng kim loại màu vàng đen ở đít đạn có số hiệu “YAS GLD 9mm PAK” là loại đạn cao su thuộc cỡ đạn (9mm PAK), là công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí quân dụng.

Bị cáo Đinh Trọng Thiện B thành khẩn khai báo; có ông ngoại, cậu là liệt sĩ; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.

Về vật chứng, đồ vật tạm giữ: 03 vỏ đạn màu vàng, có cùng đường kính 9,5mm, dài 22mm; 01 viên đạn màu vàng đen, có đường kính 9,5mm, dài 22mm; 03 vỉ đạn pháo (gồm 27 vòng đạn); 01 vật hình dạng thân súng ngắn (loại súng dùng ga bắn bi kim loại) bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu, không có số hiệu; 01 vật bằng nhựa màu đen (dạng súng điện) có ký hiệu FBQ2009-B 800KV; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu xám, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, không có số hiệu; 01 mũ cối màu xanh lá cây, loại nhựa bọc vải có gắn huy hiệu Công an nhân dân màu vàng phía trên mũ, bên dưới có quai cài bằng vải, có kích thước (30x26x15)cm; 01 hộp giấy có chữ M1911, bên trong có mút xốp bị khoét hình khẩu súng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKSTH ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Đinh Trọng Thiện B về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đinh Trọng Thiện B và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/02/2024.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 03 vỏ đạn màu vàng, có cùng đường kính 9,5mm, dài 22mm; 01 viên đạn màu vàng đen, có đường kính 9,5mm, dài 22mm; 03 vỉ đạn pháo (gồm 27 vòng đạn); 01 vật hình dạng thân súng ngắn (loại súng dùng ga bắn bi kim loại) bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu, không có số hiệu; 01 vật bằng nhựa màu đen (dạng súng điện) có ký hiệu FBQ2009-B 800KV; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu xám, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, không có số hiệu; 01 mũ cối màu xanh lá cây, loại nhựa bọc vải có gắn huy hiệu Công an nhân dân màu vàng phía trên mũ, bên dưới có quai cài bằng vải, có kích thước (30x26x15)cm; 01 hộp giấy có chữ M1911, bên trong có mút xốp bị khoét hình khẩu súng. Trả lại cho bà Đào Thị Kim N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo Đinh Trọng Thiện B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Kim N trình bày: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone là của bà, không liên quan đến hành vi phạm tội nên xin được nhận lại.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T và vợ chồng ông Bùi Văn T1, bà Trần Thị Mỹ H1 trình bày: Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng từ 22 giờ 53 phút đến 23 giờ 27 phút ngày 22/11/2023, tại đường Y thuộc khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên là nơi khu dân cư đông đúc, tập trung nhiều người đang diễn ra hoạt động mua bán tôm, bị cáo Đinh Trọng Thiện B đã có hành vi la lớn tiếng, chửi bới và dùng súng bắn đạn cao su bắn 05 phát gây tiếng nổ làm mọi người hoảng sợ, bỏ chạy, dừng hoạt động mua bán, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 92/CT-VKSTH ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến đời sống bình thường, hoạt động mua bán tôm của người dân sinh sống tại địa phương; gây tâm lý hoang mang, lo sợ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có tiền án và nhân thân xấu nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo Đinh Trọng Thiện B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông ngoại, cậu là liệt sĩ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với bà Đào Thị Kim N có hành vi tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm, bị Ủy ban nhân dân thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPHC ngày 02/8/2024.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T; vợ chồng ông Bùi Văn T1 và bà Trần Thị Mỹ H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 03 vỏ đạn màu vàng, có cùng đường kính 9,5mm, dài 22mm; 01 viên đạn màu vàng đen, có đường kính 9,5mm, dài 22mm (được niêm phong 01 túi niêm phong số PS3 2146859); 03 vỉ đạn pháo (gồm 27 vòng đạn); 01 vật hình dạng thân súng ngắn (loại súng dùng ga bắn bi kim loại) bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu, không có số hiệu; 01 vật bằng nhựa màu đen (dạng súng điện) có ký hiệu FBQ2009-B 800KV; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu xám, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, không có số hiệu (được niêm phong trong 01 thùng giấy); 01 mũ cối màu xanh lá cây, loại nhựa bọc vải có gắn huy hiệu Công an nhân dân màu vàng phía trên mũ, bên dưới có quai cài bằng vải, có kích thước (30x26x15)cm; 01 hộp giấy có chữ M1911, bên trong có mút xốp bị khoét hình khẩu súng.

Trả lại cho bà Đào Thị Kim N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (được niêm phong trong một phong bì dán kín) vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Đặc điểm tất cả vật chứng thể hiện theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD vì là chứng cứ của vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo Đinh Trọng Thiện B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Trọng Thiện B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng Thiện B 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/02/2024.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 03 vỏ đạn màu vàng, có cùng đường kính 9,5mm, dài 22mm; 01 viên đạn màu vàng đen, có đường kính 9,5mm, dài 22mm (được niêm phong 01 túi niêm phong số PS3 2146859); 03 vỉ đạn pháo (gồm 27 vòng đạn); 01 vật hình dạng thân súng ngắn (loại súng dùng ga bắn bi kim loại) bằng kim loại màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu, không có số hiệu; 01 vật bằng nhựa màu đen (dạng súng điện) có ký hiệu FBQ2009-B 800KV; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu xám, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, không có số hiệu (được niêm phong trong 01 thùng giấy); 01 mũ cối màu xanh lá cây, loại nhựa bọc vải có gắn huy hiệu Công an nhân dân màu vàng phía trên mũ, bên dưới có quai cài bằng vải, có kích thước (30x26x15)cm; 01 hộp giấy có chữ M1911, bên trong có mút xốp bị khoét hình khẩu súng.

    Trả lại cho bà Đào Thị Kim N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (được niêm phong trong một phong bì dán kín).

    (Đặc điểm tất cả vật chứng thể hiện theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).

    Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD vì là chứng cứ của vụ án.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo Đinh Trọng Thiện B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Vân

01 (một) năm cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường B2, thành phố T, tỉnh Phú Yên nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường B2, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường B2, thành phố T, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T5 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường A1, thành phố T, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Bích T5 cho Ủy ban nhân dân phường A1, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A1, thành phố T, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 321 BLHS, phạt bổ sung đối với Nguyễn Thị Bích T5 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[6] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Trọng Thiện Bảo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger