Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 17-9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Bảo và Bà Nguyễn Thị Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Thanh T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 17/3/1993 tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn V và bà: Nguyễn Thị Thanh H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 30/5/2016 bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích cho anh Đào Đình N, ngày 03/6/2016 hoàn thành nghĩa vụ phạt tiền; bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Triệu Anh T1, sinh năm: 1995, nơi cư trú: xóm B, thôn T, xã D, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

+ Công ty cổ phần D; địa chỉ: Tòa V, đường C, khu đô thị V, phường P, quận L, thành phố H đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Cảnh T2 – chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Q, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng: anh Nguyễn Văn B, vắng mặt tại phiên toà.

* Người chứng kiến: ông Bùi Lã T3, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 29/4/2024, tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Dương Thanh T đã có hành vi bán trái phép 0,363 gam thực vật khô là ma tuý loại cần sa với giá 300.000 đồng cho anh Triệu Anh T1 để anh T1 sử dụng, vừa giao dịch xong thì bị Công an bắt quả tang, vật chứng thu giữ của Triệu Anh T1: một vỏ hộp giấy bên trong có một túi nilon, kích thước khoảng (4x7cm) chứa thực vật khô, số tiền 150.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen cùng sim; thu giữ của Dương Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO, vỏ màu xanh kèm sim, 500.000 đồng; tạm giữ của T 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF8, biển kiểm soát 14E – 009.88.

Tại các bản Kết luận giám định số: 607/KL-KTHS ngày 06/5/2024 và số 623/ KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: thực vật khô thu giữ của Triệu Anh T1 gửi giám định là ma tuý, loại cần sa, khối lượng 0,363g; tìm thấy chất 9-cacboxy-THC là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy cần sa trong mẫu nước tiểu của Triệu Anh T1Dương Thanh T.

Bản Cáo trạng số 1881/CT-VKSCP ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Dương Thanh T đều khai nhận: bị cáo lái xe taxi cho Công ty cổ phần D và Thông minh GSM, khoảng 11 giờ 30 ngày 29/4/2024 bị cáo nhận được điện thoại của Triệu Anh T1 hỏi mua ma tuý loại cần sa, do cũng thường sử dụng loại ma tuý này nên đã nhận lời bán cho anh T1 và hẹn giao dịch tại quán K1 Đ. Vì bận chở khách nên đến hơn 23 giờ cùng ngày bị cáo mới điều khiển xe ô tô biển số 14E – 009.88 đến điểm hẹn, tại đây T1 đưa cho bị cáo một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, do lượng ma tuý cần sa không còn nhiều nên bị cáo đã bán cho T1 với giá 300.000 đồng và lấy phí xe taxi mang ma tuý đến là 50.000 đồng. Bị cáo đưa lại cho T1 số tiền 150.000 đồng, khi vừa giao dịch xong thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính vào năm 2016, đã chấp hành xong và có sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu POCO màu xanh bị Công an thu giữ vào việc liên lạc mua bán ma tuý, số tiền 500.000 đồng gồm tiền bán ma tuý cho anh T1 và 150.000 đồng do bị cáo lao động có được; chiếc xe ô tô là của Công ty cổ phần D. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cơ quan điều tra và đơn xin vắng mặt tại phiên toà, anh Triệu Anh T1 – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có lời khai thể hiện: anh sử dụng ma tuý loại cần sa từ tháng 02/2024 đến nay, vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/4/2024 anh đã gọi điện thoại cho Dương Thanh T để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý, cả hai hẹn nhau đến tối giao dịch tại khu vực cửa quán K1 Đ thuộc tổ A, khu H, phường C, thành phố C để giao nhận. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì T điều khiển xe ô tô biển số 14E – 009.88 đến điểm hẹn, khi gặp nhau anh đưa 500.000 đồng, T đưa lại cho anh một hộp giấy màu trắng bên trong chứa ma tuý cần sa, do còn ít ma tuý cần sa nên T bán với giá 300.000 đồng và lấy thêm 50.000 đồng tiền phí taxi. T đưa lại cho anh 150.000 đồng, hai bên vừa giao dịch xong thì bị Công an bắt quả tang. Công an đưa anh về trụ sở để làm việc và thu giữ vật chứng là ma tuý cần sa theo đúng quy định, Công an thu giữ của anh 150.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cùng với sim, anh đã được trả lại điện thoại; số tiền 150.000 đồng là tiền anh định sử dụng vào việc mua ma túy nên không nhận lại, đề nghị nộp ngân sách Nhà nước.

Ông Nguyễn Cảnh T2 – người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có lời khai tại hồ sơ và đơn xin xử án vắng mặt, có quan điểm: Công ty đã được nhận lại chiếc xe ô tô Vinfast VF8 biển kiểm soát 14E – 009.88 nên không còn liên quan đến vụ án và không có đề nghị gì khác.

Anh Nguyễn Văn B là người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: anh là bạn của anh Triệu Anh T1, vào khoảng 23 giờ ngày 29/4/2024 anh được anh T1 mời đến quán K1 Đtổ A, khu H, phường C, thành phố C, tại đây anh thấy có một chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14E – 009.88 đi đến, anh thấy T1 đưa cho người lái xe một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thì người này đưa lại cho T1 một hộp giấy màu trắng và số tiền 150.000 đồng, khi họ vừa trao đổi với nhau xong thì Công an đến bắt giữ cả hai về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và thu giữ vật chứng theo đúng quy định.

Ông Bùi Lã T3 là người chứng kiến trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: ông được chứng kiến việc Công an bắt quả tang thu trong tay trái của Triệu Anh T1 01 (một) hộp giấy bên trong có một túi nilon chứa thực vật khô, T1 khai nhận đó là ma túy loại cần sa vừa mua của T để về sử dụng. Công an đã tiến hành lập biên bản, niêm phong số ma túy và thu giữ các vật chứng của T là: 500.000 đồng (tiền T1 mua ma tuý của T), 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO vỏ màu xanh, tạm giữ xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF8 theo đúng quy định.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Dương Thanh T từ 24 (hai bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp ngân sách nhà nước: số tiền 150.000 đồng của anh Triệu Anh T1; số tiền 350.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO thu giữ của bị cáo T; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa số ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo T. Trả lại cho bị cáo Dương Thanh T số tiền 150.000 đồng.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Thanh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Dương Thanh T khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 29/4/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 29/4/2024, tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Dương Thanh T đã có hành vi bán trái phép 0,363 gam ma túy, loại cần sa cho anh Triệu Anh T1 với giá 300.000 đồng để anh T1 sử dụng thì bị Công an bắt giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhằm mục đích kiếm lời, chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra, vợ bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên bị cáo là lao động chính trong gia đình, do vậy áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với số ma tuý thu giữ trong vụ án được hoàn lại mẫu vật sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ. Công an thu giữ của bị cáo T số tiền 500.000 đồng trong đó có 350.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền 150.000 đồng còn lại là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo. Công an còn thu giữ: của bị cáo T 01 chiếc sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ; số tiền 150.000 đồng anh Triệu Anh T1 không nhận lại nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo, do không biết lý lịch địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Đối với anh Triệu Anh T1 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 25/7/2024 Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[8] Về án phí: bị cáo Dương Thanh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Dương Thanh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Dương Thanh T 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.

Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, thu giữ của bị cáo Dương Thanh T; 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của anh Triệu Anh T1.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 607/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q và 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 89840, 48000, 07379, 2806 thu giữ của bị cáo Dương Thanh T.

Trả lại cho bị cáo Dương Thanh T số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) không liên quan đến việc phạm tội.

(Tiền vật chứng thu giữ theo Biên bản giao nhận tài sản số 42/2024/BBBG-CQCSĐTCATPCP ngày 16/5/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước thành phố C. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 154/BB -THA ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Thanh T phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho bị cáo biết bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Cẩm Phả;
  • - CQ CSĐT Công an TP Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS TP Cẩm Phả;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)




Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: bị cáo Dương Thanh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Xử phạt: Dương Thanh T 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger