Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắn và ông Lê Quang Điện
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST - HS ngày 15/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST - HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn K, sinh ngày 07/7/2006.

Nơi sinh, cư trú: Bản Xa, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn S và bà Hà Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện P, tỉnh Sơn La. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Lò Văn S, sinh năm 1987 và chị Hà Thị Đ, sinh năm 1987 (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Có mặt anh S, vắng mặt chị Đ.
    • Đều có địa chỉ: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La.
  • * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt)
  • * Bị hại: Anh Bàn Xuân Đ1, sinh năm: 2003 (vắng mặt)
    • Nơi thường trú: Tiều khu S, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La.
    • Nơi ở hiện tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • Cháu Hà Tiến H, sinh ngày 22/04/2011 (vắng mặt)
    • Người đại diện hợp pháp của cháu H: Chị Hà Thị T, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
    • Đều có nơi thường trú: Bản Xa, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La.
    • Anh Nguyễn Ngọc T1, 1992 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
    • Anh Lò Văn S, sinh năm: 1987 (có mặt)
    • Nơi thường trú: Bản Xa, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La.

    NỘI DUNG VỤ ÁN:

    Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Lò Văn K, sinh ngày 07/07/2006 và Hà Tiến H, sinh ngày 22/04/2011, đều có hộ khẩu thường trú tại bản X, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La là những đối tượng ham chơi, lười lao động. Khoảng cuối tháng 5 năm 2024, K và H đến huyện V, tỉnh Hưng Yên để tìm việc làm. Do không có thẻ căn cước công dân nên K đã mượn căn cước công dân của anh Bùi Quang H1, sinh ngày 23/07/2008 ở bản P, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La, H mượn căn cước công dân của anh Hà Văn Đ2, sinh ngày 15/11/2006 ở cùng thôn mang đi phô tô để nếu xin việc yêu cầu xuất trình căn cước công dân thì H và K sẽ cung cấp bản căn cước công dân phô tô.

    Sáng ngày 13/6/2024 K và H thuê phòng trọ trên tầng 4 nhà anh Đỗ Văn C tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên để ở. Khi thuê trọ anh C yêu cầu H và K cung cấp bản sao căn cước công dân để làm thủ tục đăng ký tạm trú; H và K đã đưa bản căn cước công dân phô tô mang tên Hà Tiến Đ3, Bùi Quang H1 cho anh C.

    Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/06/2024, khi K và H đang ở phòng trọ thì K đi ra phía bên ngoài, thấy cửa phòng trọ của anh Bàn Xuân Đ1, sinh năm 2003 ở Tiều khu S, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La ở bên cạnh đang cắm chìa khóa ở ổ khóa treo trên cửa, K nảy sinh ý định lấy chùm chìa khóa trên để lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 26P1-127.14 của anh Đ1. K đi vào trong phòng trọ nói với H: “Học ơi thằng ở phòng trọ bên cạnh để chìa khóa ở ngoài, tao với mày lấy đi”; Học hỏi: “chìa khóa gì”; K trả lời: “Chìa khóa xe máy”; Học hiểu ý Khuyết rủ trộm cắp chìa khóa trên để trộm cắp xe mô tô nên đồng ý. H đi ra ngoài lấy chùm chìa khóa treo trên cửa của anh Đ1 gồm 01 chìa khóa xe mô tô, 01 chìa khóa phòng của anh Đ1, H cầm chùm chìa khóa mang về phòng mình rồi cả hai thu dọn quần áo cho vào ba lô, H bảo K mang túi quần áo xuống cổng đợi trước, H lấy xe đi ra sau, K đồng ý. H đi đến chỗ để các xe mô tô của khu trọ, quan sát thấy chiếc xe mô tô của anh Đ1 dựng phía ngoài cùng bên trái tính từ cổng vào, H ngồi lên xe cắm chìa khóa vừa lấy được vào ổ khóa điện rồi điều khiển xe ra cổng đến chỗ K đang chờ. Rồi K điều khiển xe chở H ngồi sau. Cả hai đi từ thôn H ra Quốc lộ E chiều Hải Phòng - Hà Nội. Khi đi đến khu vực cầu T, huyện G, thành phố Hà Nội thì K dừng xe lại mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong cốp xe có 01 thẻ căn cước công dân mang tên Bàn Xuân Đ1, 01 bản sao công chứng Giấy đăng ký xe mô tô biển số biển số 26P1-127.14 mang tên anh Đ1. K bảo H: “Bây giờ đi cắm xe này đi”; H trả lời “Đi cắm ở Bắc Ninh”, K đồng ý. Khuyết tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H đi đến huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Cả hai vừa đi vừa quan sát thì thấy cửa hàng cầm đồ số 79 ở xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh treo biển cầm đồ nên đi vào trong thì gặp anh Nguyễn Ngọc T1 là chủ cửa hàng. H nói với anh T1: “Em muốn cầm chiếc xe này”, anh T1 hỏi: “Xe của ai”, H trả lời: “Xe của em” rồi đưa căn cước công dân và giấy đăng ký xe bản phô tô cho anh T1; Anh T1 kiểm tra xe và giấy tờ thấy trùng khớp với nhau nên đồng ý nhận cầm cố. Thấy H không giống trong căn cước công dân nên anh T1 hỏi sao bên ngoài khác thế thì H trả lời: “do làm đã

    lâu nên nhìn em bây giờ khác”, anh T1 đồng ý cầm cố xe với giá 8.000.000 đồng, đồng thời lập hợp đồng cầm đồ, H ký vào hợp đồng lấy tên “Bàn Xuân Đ1” và giữ 01 bản phô tô, hai bên không thỏa thuận lãi suất. Toàn bộ số tiền 8.000.000 đồng có được từ việc cầm cố xe mô tô, K và H tiêu xài cá nhân hết.

    Sau khi phát hiện bị mất xe, anh Đ1 làm đơn trình báo gửi Công an xã L, huyện V. Ngày 22/06/2024, Lò Văn K và Hà Tiến H đến Công an xã L, huyện V đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 Hợp đồng cầm đồ lập ngày 17/06/2024.

    Ngày 22/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn K, Hà Tiến H tại thôn H, xã L, huyện V. Quá trình khám xét phát hiện: Không phát hiện thu giữ, đồ vật, tài liệu gì.

    Cùng ngày 22/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V tiến hành cho K, H chỉ dẫn địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp và chỉ dẫn địa điểm nơi cầm cố tài sản. Kết quả: Khuyết và H đã chỉ dẫn đúng địa điểm trộm cắp và địa điểm cầm cố tài sản là cửa hàng cầm đồ 79 tại xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Anh Nguyễn Ngọc T1 đã tự nguyện giao nộp 01 bản sao công chứng giấy đăng ký xe mang tên Bàn Văn Đ4, 01 Hợp đồng cầm đồ lập ngày 17/06/2024 ghi tên người cầm cố là Bàn Văn Đ4, 02 ảnh in màu hình ảnh mặt trước, mặt sau căn cước công dân của Bàn Văn Đ4 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 26P1-127.14.

    Tại kết luận định giá trài sản số 31 ngày 21/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: “Tại thời điểm ngày 17/06/2024, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 26P1-127.14, số khung: RLHJA 3925PY717514, số máy: JA39E3106650, đăng ký lần đầu ngày 20/04/2023, có giá trị là 15.000.000 đồng.”

    Quá trình điều tra anh Đ4 có đơn xin lại tài sản. Ngày 30/6/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện V trả lại anh Đ4 chiếc xe mô tô trên, anh Đ4 đã nhận lại tài sản, xác định không bị hư hỏng gì nên không yêu cầu đề nghị gì thêm.

    Ngày 30/6/2024, anh Lò Văn S (là bố đẻ của Lò Văn K) đã bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 8.000.000 đồng, anh T1 đã nhận đủ tiền tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì thêm.

    Đối với Hà Tiến H tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 14 tuổi (13 tuổi 01 tháng 25 ngày) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do H thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Công an huyện V không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

    Đối với hành vi của các anh Hà Văn Đ2, Bùi Quang H1 cho Lò Văn K, Hà Tiến H mượn căn cước công dân sử dụng vào mục đích xin việc làm nhưng K1 và H chưa xin được việc làm; Đ2, H1, K1, H đều biết rõ việc làm trên là vi phạm nhưng vẫn thực hiện nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ2, H1, K1 là phù hợp, còn H khi thực hiện hành vi vi phạm chưa đủ độ tuổi nên không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính.

    Đối với anh Đỗ Văn C chủ nhà trọ, khi K và H xuất trình bản phô tô căn cước công dân mang tên Bùi Quang H1 và Hà Văn Đ2 có hỏi thì K và H nói là đã làm từ lâu nên anh C tin là thật nên không có căn cứ xử lý đôi với anh C.

    Lò Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu ở trên. Lời khai của bị can K phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan CSĐT - Công an huyện V đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

    Tại bản cáo trạng số: 98/CT-VKS-VL ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lò Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

    Tại phiên tòa:

    Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn K từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp: Không phải giải quyết.

    Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn K.

    Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài địa phương, đồng thời miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    [1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâmvà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    [2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; biên bản khám xét; Kết luận định giá tài sản cùng các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định:

    Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 17/06/2024, tại khu nhà trọ của anh Đỗ Văn C, ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn K và Hà Tiến H (sinh ngày 22/4/2011) đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 26P1-127.14, trị giá 15.000.000 đồng của anh Bàn Xuân Đ1 mang đi cầm cố lấy số tiền 8.000.000đ, sau đó thì bị phát hiện.

    Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Hà Tiến H chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xét. Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, buộc phải nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi của bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 50.000.000 đồng đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

    Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

    Tuy nhiên cũng xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện tác động bố đẻ bị cáo bồi thường, khắc phúc hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, vì vậy khi quyết định hình phạt cần áp dụng “Nguyên tắc xử lý đối với người đưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Hội đồng xét xử có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa hành vi vi phạm pháp luật của mình là phù hợp và có căn cứ. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    [3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định bị cáo không có thu nhập ổn định,

    không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    [4]. Về trách nhiệm dân sự:

    Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V trả lại anh Bàn Xuân Đ1 chiếc xe mô tô, anh Đ1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì thêm; anh Lò Văn S (là bố đẻ của Lò Văn K) đã bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 8.000.000 đồng, anh T1 đã nhận đủ tiền tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì thêm; anh Lò Văn S không yêu cầu bị cáo phải trả lại anh số tiền 8.000.000 đồng anh đã bồi thường cho anh T1 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xét.

    [5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lò Văn K sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
    2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    3. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    1. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp: Không phải giải quyết.
    2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn K.

    1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

    Nơi nhận:

    • - Viện kiểm sát nhân dân, Công an huyện Văn Lâm;
    • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
    • - Lưu hồ sơ.

    T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Khuyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger