TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-ST
Ngày: 29-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Thái
Bà Đỗ Thị Lài
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/HSST ngày 28/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/HSST-QĐ ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:
Phạm Đình T,
sinh ngày 03 tháng 12 năm 2007 tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồ M, sinh năm 1986 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1986; Bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Chưa;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 24/01/2024, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo T: Ông Phạm Hồ M, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp C, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Đăng Đ1 – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/11/2023, Phạm Đình T và Nguyễn Thanh S (sinh năm 2008, trú tại xã A, huyện L, Bà Rịa - Vũng Tàu) ngồi chơi game trước xưởng cá đối diện nhà anh Hồ Văn K (sinh năm 1986; đăng ký thường trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp). Do T và S chửi tục lớn tiếng với nhau trong lúc chơi game làm cho anh K đang nhậu một mình trước nhà thấy ồn ào rất khó chịu nên vào nhà lấy 01 con dao dài khoảng 50cm ra đứng ở cửa nhà chửi bới, đe dọa đòi đánh. T và S cùng đi vào trong xưởng làm cá thì ông K cất dao nhưng vẫn tiếp tục đứng chửi. S gọi điện thoại kể sự việc trên cho mẹ mình là bà Danh Thị Mỹ N biết. Khoảng 5 phút sau, bà N đi đến hỏi anh K vì sao đòi chém S thì anh K trả lời không có ý định chém S mà muốn chém T và chỉ tay về phía T.
Về phía T, do bị ông K nhiều lần chửi, đòi đánh nên T tức giận, đi vào xưởng cá lấy 01 cây sắt dài khoảng 81.5cm, đường kính khoảng 2cm chạy ra đánh liên tiếp 02 phát trúng vào đầu, ngực ông K rồi bỏ vào xưởng cá.
Ông K được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị. Tại Kết luận tổn thương cơ thể trên người sống số 517 ngày 20/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B-VT đối với Hồ Văn K xác định:
“- Thương tích 1: Sẹo da vùng trán trái, dạng dài, màu hồng nhạt, bờ không gọn, kích thước 4,8cmx0,2cm. Sẹo phẫu thuật đường Question Mark trái, lành màu hồng nhạt, kích thước 32cmx0,2cm; Biến dạng lõm vùng trán đính thái dương trái, đáy mềm. Sẹo dẫn lưu vùng giữa đính, dạng hình tròn, lành màu hồng nhạt, kích thước 0,5cm. Vùng đính phải, vùng chẩm trái hiện không còn dấu sưng nề. Thương tích được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tỷ lệ phần trăm thương tật là 51%.
- Thương tích 2: Tổn thương da nông trước ngực trái, không rõ hình dạng hình học, khả năng lành không còn dấu vết, kích thước 07cm x 02cm. Thương tích được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau. Vết thương không có tỷ lệ thương tật.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 51%”.
Tại Kết luận giám định gen (ADN) số 1485, ngày 20/03/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C tại TP H xác định: “Trên ống cây sắt tạm giữ của Phạm Đình T có dính màu người, phân tích kiểu gen trùng với kiểu gen của Hồ Văn K”.
Qua đánh giá diễn biến sự việc và tính chất hành vi do T thực hiện, xét thấy chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà T đã sử dụng cây sắt 01 dài khoảng 81.5cm, đường kính khoảng 2cm hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng đầu, ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Hồ Văn K. Hành vi của T có tính chất côn đồ hung hãn, ý chí tước đoạt tính mạng nạn nhân; việc nạn nhân không chết là do được cứu chữa kịp thời, nhưng cũng bị tỷ lệ tổn thương cơ thể của là 51%. Do đó, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh đề nghị truy tố đối với T về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt là có căn cứ. Quá trình điều tra, T đã khai nhận và diễn tả lại hành vi, diễn biến sự việc như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về nguyên nhân, diễn biến sự việc; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng:
- Quá trình điều tra thu giữ 01 cây sắt dài khoảng 81,5cm, đường kính khoảng 2cm là công cụ T sử dụng gây án. Đã chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh quản lý theo quy định.
- Quá trình điều tra đã trích xuất dữ liệu của camera tại xưởng cá ghi lại diễn biến sự việc vào 01 đĩa DVD. Được chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Phần Dân sự:
Gia đình bị cáo T đã bồi thường 21 triệu đồng cho bị hại Hồ Văn K.
2. Tại Cáo trạng số 91A/CT-VKSBRVT-P2 ngày 14/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Giết người”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 07 đến 08 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo và gia đình bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt dài khoảng 81,5cm, đường kính khoảng 2cm là công cụ T sử dụng gây án.
Luật sư Nguyễn Đăng Đ1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:
Về tội danh: Không ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố;
Về hình phạt: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại; bị cáo phạm tội chưa đạt; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi; bị hại cũng có một phần lỗi. Đề nghị mức hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 04 năm tù.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư và không ý kiến gì bổ sung.
Ông Phạm Hồ M – đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị hại Hồ Văn K có ý kiến: Bị hại cũng có một phần lỗi xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Khoảng hơn 21 giờ ngày 14/11/2023, tại xưởng làm cá thuộc xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà Phạm Đình T đã sử dụng cây sắt 01 dài khoảng 81.5cm, đường kính khoảng 2cm hung khí nguy hiểm tấn công vào đầu, ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Hồ Văn K. Hành vi của T có tính chất côn đồ hung hãn, ý chí tước đoạt tính mạng nạn nhân; việc nạn nhân không chết là do được cứu chữa kịp thời, nhưng cũng bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%. Hành vi của bị cáo phạm tội ở giai đoạn chưa đạt.
Từ diễn biến hành vi của bị cáo và kết luận giám định, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Phạm Đình T đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp chưa đạt. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Đình T là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Hồ Văn K. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Do đó, cần có mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường tổng cộng 43 triệu đồng cho bị hại Hồ Văn K nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi và tại toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có người có công với cách mạng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và khi phạm tội bị cáo trên 14 tuổi dưới 16 tuổi nên áp dụng các quy định tại các Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường 43.000.000đ; tại phiên toà giữa bị hại và bị cáo, đại diện gia đình bị cáo ông Phạm Hồ M (bố bị cáo) đã thống nhất số tiền bồi thường thêm là 40.000.000đ nên ghi nhận; Buộc bị cáo và ông Phạm Hồ M bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt dài khoảng 81,5cm, đường kính khoảng 2cm là công cụ T sử dụng gây án.
[7] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo là người dưới 16 tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 thì bị cáo được miễn án phí sơ thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: P (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 01 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Phạm Đình T và ông Phạm Hồ M (bố của bị cáo T) bồi thường cho bị hại Hồ Văn K số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt dài khoảng 81,5cm, đường kính khoảng 2cm là công cụ T sử dụng gây án.
(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 79/BB-CTHADS ngày 26/6/2024).
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo được miễn.
Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự về tội giết người
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình T Giết người
