|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 108/2024/HSST Ngày: 14-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Loan
- Ông Trần Quang Vinh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
VÕ NGỌC PHÚC (Tên gọi khác: Ú), sinh năm 1991 tại Gia Lai; nơi cư trú: B N, Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Ngọc P, sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1957; hiện cha, mẹ bị cáo đang trú tại: Thôn D, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai; bị cáo có 04 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1992); bị cáo có vợ là Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1986; bị cáo có hai người con sinh năm 2012 và năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày14-4-2006 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20-4-2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành án phạt tù tại trại giam Đ1 – Bộ C1. Ngày 26-7-2008, thi hành xong án phạt tù. Các bản án trên đã được xóa án tích.
Bị cáo Võ Ngọc P1 bị tạm giữ từ ngày 22-7-2023 đến ngày 31-7-2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
-
ĐOÀN VĂN TUYẾN, sinh năm 1991 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ cửa sắt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn M, sinh năm 1960 và bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1965; hiện cha, mẹ bị cáo đang trú tại: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; bị cáo có 04 anh chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993; bị cáo có vợ là Phạm Ngọc D, sinh năm 1991; bị cáo có 01 người con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Đoàn Văn T bị tạm giữ từ ngày 22-7-2023 đến ngày 31-7-2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
-
MÃ THỊ THƠM, sinh năm 1995 tại Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mã Văn L1, sinh năm 1966 và bà: Nông Thị Đ, sinh năm 1964; hiện cha, mẹ bị cáo đang trú tại: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; bị cáo có hai chị ruột (sinh năm 1988 và năm 1987). Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016, hiện con bị cáo đang ở với ông Mã Văn T1 (là anh ruột bị cáo) tại: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Mã Thị T2 bị tạm giữ từ ngày 22-7-2023 đến ngày 31-7-2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.
-
VƯƠNG VĂN TRƯỜNG, sinh năm 1997 tại Bình Định; nơi cư trú: Làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vương Văn T3, sinh năm 1972 và bà: Lê Thị L2, sinh năm 1972; hiện cha, mẹ bị cáo đang trú tại: Làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; bị cáo có một chị ruột (sinh năm 1994). Bị cáo có vợ là Ksor Hà Thảo N; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2020, hiện vợ và con bị cáo đang sống tại làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Vương Văn T4 bị tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 31/7/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Chị Phan Thị Phương T5, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Chị Ksor Hà Thảo N, sinh năm 1996; địa chỉ: Làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2, Vương Văn T4, Trương Thị Ngọc L (sinh năm 1986, là vợ của P1), Nguyễn Văn T6 (sinh năm 1990, trú tại Tổ E, phường H, thành phố P), Nguyễn Thanh N1 (sinh năm 1991, trú tại Tổ A, phường H, thành phố P) và Phan Thị Phương T5 (sinh năm 1995, trú tại Tổ B, phường H, thành phố P) có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 18 giờ ngày 21/7/2023, P1, T, T2, T4, L, T6, N1 và T5 nhậu tại quán C2 ở khu vực bờ kè suối H, phường P, thành phố P. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, T, T2 và T5 đến quán B, Tổ G, phường H, thành phố P; còn P1, T4, T6, L, N1 về nhà P1. Khi về đến nhà P1, do L và T6 say nên đi ngủ; P1, T4 và N1 ngồi nhậu tiếp. Đến khoảng 22 giờ 04 phút, P1 nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên gọi điện thoại cho T nhờ T mua khoảng 4.000.000 đồng ma túy loại thuốc L3 và ma túy loại Khay rồi mang đến nhà P1 để cùng sử dụng, thì T đồng ý. Ngay sau đó, T nói cho T2 biết việc P1 gọi điện nói mua ma túy, rồi nhờ T2 mua ma túy để cùng nhau sử dụng, thì T2 đồng ý. Qua các mối quan hệ ngoài xã hội, T2 biết đối tượng K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy nên T2 đã gọi qua ứng dụng Z cho K hỏi mua khoảng 4.000.000 đồng ma túy loại thuốc Lắc và ma túy loại Khay, hẹn giao dịch tại hẻm B đường N, Tổ B, phường H, K đồng ý. Sau đó, T, T2 và T5 đón xe taxi đi đến nhà P1 ở số B đường N, Tổ B, phường H, thành phố P. Trên đường đi, T gọi điện thoại nói cho P1 biết là T2 đã liên hệ mua ma túy xong, đang chuẩn bị đến. Khi về đến nhà thì Thôi và L đi ngủ; sau đó, P1 đã đưa 4.500.000 đồng cho T4 nhờ đưa cho T2. Khi T2 đến, T4 đi ra trước nhà đưa cho T2 4.500.000 đồng. T2 cầm số tiền này đi ra điểm hẹn gặp K đưa 4.500.000 đồng; K đưa cho T2 04 viên ma túy thuốc Lắc cùng 01 gói ma túy Khay và trả lại 300.000 đồng. Thơm mang số ma túy này vào nhà để trên bàn trong phòng khách và đưa cho P1 300.000 đồng còn dư. Sau đó, P1 lấy 01 tô sứ, lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuốn thành ống hút, dùng đầu lọc thuốc lá cố định hai đầu, đổ một phần ma túy Khay vào tô sứ. Lúc này, T2 hỏi “Ai có thẻ không” thì T4 nói “Tao có thẻ đây” rồi lấy trong ví ra 01 thẻ ATM để lên bàn cho mọi người kẻ ma túy K1 sử dụng. Sau đó, P1 và N1 sử dụng ma túy thuốc Lắc và ma túy K1; T2, T, T4, T5 sử dụng ma túy Khay. Đến 01 giờ ngày 22/7/2023, khi P1, T, T2, T4, T5 và N1 đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang; thu giữ tại bàn uống nước trong phòng khách các vật chứng gồm: 01 tô sứ màu trắng có chứa chất rắn dạng bột màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, hai đầu được cố định bằng hai đầu lọc thuốc lá; 01 thẻ ATM mang tên VUONG VAN TRUONG; 01 túi nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (tất cả được niêm phong theo quy định). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J3 Pro và 01 bật lửa màu đỏ của P1; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max và 01 điện thoại Nokia màu xanh của T2; 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus và 01 điện thoại Sam Sung Galaxy 6 Plus của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs và 01 xe mô tô biển số 81N1-141.52 của T4.
Qua xét nghiệm, xác định: Mã Thị T2, Võ Ngọc P1, Phan Thị Phương T5, Vương Văn T4, Nguyễn Thanh N1 và Đoàn Văn T dương tính với ma túy; Nguyễn Văn T6 và Trương Thị Ngọc L âm tính với các chất ma túy.
Các bị cáo Võ Văn P2, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T7 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Các vấn đề khác:
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 671/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của phòng K2 Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng bột trong 01 gói nilon trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,2982 gam. Chất màu trắng bám dính trên tô sứ màu trắng, thẻ ATM mang tên VUONG VAN TRUONG và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (được cuộn tròn) trong hộp giấy niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.
- Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số: 75/CT-VKS ngày 26-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T và Vương Văn T4.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc P1 với mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22-7-2023.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22-7-2023.
Xử phạt bị cáo Vương Văn T4 với mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22-7-2023.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Mã Thị T2.
Xử phạt bị cáo Mã Thị T2 với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22-7-2023.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn ghi số: 671/PC09 ngày 31-7-2023, có dấu niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh G.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đồng (mươi ngàn đồng) tiền Ngân hàng N2.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu S J3 Pro, kèm sim số (điện thoại của P1), 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max kèm sim số (điện thoại của T2) và 01 điện thoại Iphone 6S Plus kèm sim số (điện thoại của T).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa màu đỏ thu giữ của bị cáo P1.
Trả lại cho bị cáo T2 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh, kèm sim số
Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy 6 Plus kèm sim số.
Trả lại cho bị cáo T4 01 (một) điện thoại hiệu I phone Xs, kèm sim số.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Các bị cáo nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo:
Xét thấy lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 phạm tội như sau:
Khoảng 22 giờ 04 phút ngày 21/7/2023, Võ Ngọc P1 nảy sinh ý định sử dụng ma túy và đã gọi điện thoại rủ Đoàn Văn T mua ma túy để cùng nhau sử dụng; T đồng ý và nhờ Mã Thị T2 mua ma túy. T2 đã liên lạc với đối tượng K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy loại Ketamine và thuốc Lắc với số tiền 4.200.000 đồng, rồi cùng T đến nhà P1 tại B đường N, Tổ B, phường H, thành phố P. Đến nơi, T2 được Vương Văn T4 đưa 4.500.000 đồng - là tiền của P1 nhờ T4 đưa cho T2. Khoảng 22 giờ 35 phút, T2 ra đầu hẻm nhà P1 gặp K mua 04 viên thuốc Lắc và 01 gói ma túy loại Ketamine rồi mang vào nhà P1 để trên bàn trong phòng khách. Sau đó, P1 lấy 01 tô sứ đổ ma túy Ketamine, tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và đầu lọc thuốc lá cuộn lại làm ống hút; còn T4 cung cấp thẻ ATM để P1, T2, T, T4, Phan Thị Phương T5 và Nguyễn Thanh N1 cùng nhau sử dụng ma túy. Đến 01 giờ ngày 22/7/2023, khi các đối tượng Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2, Vương Văn T4, Phan Thị Phương T5 và Nguyễn Thanh N1 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng khách nhà P1 thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 0,2982 gam ma túy loại Ketamine, 01 tô sứ màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn hai đầu cố định bằng đầu lọc thuốc lá và 01 thẻ ATM, đều có bám dính chất ma túy Ketamine. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J3 Pro và 01 bật lửa màu đỏ của P1; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max và 01 điện thoại Nokia màu xanh của T2; 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus và 01 điện thoại Sam Sung Galaxy 6 Plus của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs và 01 xe mô tô biển số 81N1-141.52 của T4.
Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
...”.
Ma tuý là chất độc, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi vào cơ thể con người có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và tâm sinh lý của con người, làm hạn chế hoạt động của não bộ và gây ức chế hệ thần kinh. Ma tuý gây tác hại về nhiều mặt trong đời sống. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương và nảy sinh ra những tội phạm khác, là vi phạm pháp luật.
Các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 là người đã trưởng thành, có nhận thức, lẽ ra bị cáo phải nhận thức được tác hại và hậu quả của việc sử dụng trái phép chất. Nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã bàn bạc mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho các bị cáo và rủ đối tượng Phan Thị Phương T5 và Nguyễn Thanh N1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Võ Ngọc P1 đã rủ rê, khởi xướng hành vi sử dụng ma túy, gọi nhờ mua ma túy, sử dụng nơi ở, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo có nhân thân xấu và cùng các bị cáo Mã Thị T2, Đoàn Văn T và Vương Văn T4 thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, góp phần phát sinh ra những tệ nạn xã hội khác. Hành vi của các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, nhằm giáo dục các bị cáo cải tạo bản thân để tiến bộ là cần thiết.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Các bị cáo Võ Ngọc P1 và Vương Văn T4 là lao động chính trong gia đình và có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của địa phương; bị cáo Đoàn Văn T có ông nội là Liệt sỹ; bị cáo Vương Văn T4 có ông nội được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) bì công văn ghi số: 671/PC 09 ngày 31-7-2023, có dấu niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh G. Xét đây là tang vật của vụ án. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đồng (mươi ngàn đồng) tiền Ngân hàng N2. Xét đây là tang vật của vụ án cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S J3 Pro, kèm sim số (điện thoại của P1), 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max kèm sim số (điện thoại của T2) và 01 điện thoại Iphone 6S Plus kèm sim số (điện thoại của T). Các bị cáo đã sử dụng các điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) bật lửa màu đỏ thu giữ của bị cáo P1. Xét không còn giá trị sử dung, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh, kèm sim số, thu giữ của bị cáo T2; 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy 6 Plus kèm sim số thu giữ của bị cáo T và 01 (một) điện thoại hiệu I phone Xs, kèm sim số, thu giữ của bị cáo T4. Xét những điện thoại này là của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản và các bị cáo không có hưởng lợi gì nên Hội đồng xét xử, xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên K mà bị cáo Mã Thị T2 khai là người đã bán ma túy: Do T2 không biết nhân thân, lai lịch của K; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của T2 nhưng do sau khi liên lạc với K mua ma túy xong, T2 đã xóa nên không xác định được số điện thoại của K và thông tin liên quan đến việc mua bán ma túy. Do đó, chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau.
Đối với Phan Thị Phương T5 và Nguyễn Thanh N1, qua điều tra xác định, T5 và N1 không thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà chỉ thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thị Phương T5 và Nguyễn Thanh N1 (phạt 1.500.000 đồng) là phù hợp.
Đối với Trương Thị Ngọc L và Nguyễn Văn T6 là những người có mặt tại số nhà B đường N, Tổ B, phường H, thành phố P khi Cơ quan điều tra bắt quả tang. Tuy nhiên, qua điều tra xác định L và T6 không sử dụng ma túy; khi các đối tượng mua ma túy tàng trữ và tổ chức sử dụng ma túy thì L và T6 đều không biết nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với căn nhà số B đường N, Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai (nơi các bị can Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) do bị can P1 và vợ là Trương Thị Ngọc L là chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc các bị can Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì L không biết nên không có đủ căn cứ để xử lý về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T và Vương Văn T4.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Mã Thị T2.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Võ Ngọc P1 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 22-7-2023.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 22-7-2023.
- Xử phạt bị cáo Mã Thị T2 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 22-7-2023.
- Xử phạt bị cáo Vương Văn T4 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 22-7-2023.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn ghi số: 671/PC 09 ngày 31-7-2023, có dấu niêm phong của phòng K2 Công an tỉnh G.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đồng (mươi ngàn đồng) tiền Ngân hàng N2.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S J3 Pro, kèm sim số (điện thoại của P1), 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max kèm sim số (điện thoại của T2) và 01 điện thoại Iphone 6S Plus kèm sim số (điện thoại của T).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa màu đỏ thu giữ của bị cáo P1.
- Trả lại cho các Mã Thị T2 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh, kèm sim số.
- Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn T 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy 6 Plus kèm sim số.
- Trả lại cho bị cáo Vương Văn T4 01 (một) điện thoại hiệu I phone Xs, kèm sim số.
(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01-4-2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku,tỉnh Gia Lai).
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Võ Ngọc P1, Đoàn Văn T, Mã Thị T2 và Vương Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tông đạt theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nhàn |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
