|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2023/HS-ST
Ngày: 27/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương
- Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đỗ Thị Hân
- Ông Nguyễn Huy Lâm
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn B (tên gọi khác: không); sinh ngày 05/12/1997, tại huyện T, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: bản N, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn H và bà Lường Thị T; có vợ Lò Thị H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/9/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: anh Đoàn Biên G, sinh năm 1996; nơi thường trú: khu D, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/9/2023, B đi đến khu vực vòng xuyến đầu đường cao tốc, thuộc phường H, thành phố M, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 08 gói ma tuý Heroine được giấu trong vỏ bao thuốc lá, với giá 600.000 đồng. Sau khi mua, B mang vỏ bao thuốc lá đựng ma túy về phòng trọ ở khu F, phường H, thành phố M, cất giấu cạnh chiếc gối tại đầu giường của B để sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi B đang ở tại phòng trọ, thì bị Tổ công tác của Công an phường H đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của B: 01 vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long đựng 01 túi nilon kích thước (7,5x4)cm, bên trong có 08 gói nilon màu vàng hàn kín, đêu chứa chất bột màu trắng (kí hiệu từ M1 đến M8).
Tại bản Kết luận giám định số: 1437/KL-KTHS ngày 04/10/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M8 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng các mẫu vật từ M1 đến M8 lần lượt là: 0,024g; 0,031g; 0,039g; 0,029g; 0,048g; 0,032g; 0,034g; 0,026g. Tổng khối lượng ma túy giám định là: 0,263g (không phẩy hai sáu ba gam).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có lời khai như nội dung vụ án. Ngoài ra, B còn khai nhận nguồn gốc số ma túy trên do B mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu vực vòng xuyến đầu đường cao tốc, thuộc phường H, thành phố M với giá 600.000 đồng, ma tuý Heroine, để sử dụng.
Người chứng kiến anh Đ Biên Giới vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện: khoảng 21 giờ 50 phút ngày 28/9/2023, khi anh G vừa đến trụ sở Công an phường H, thành phố M để hỏi một số thủ tục hành chính thì được cán bộ Công an phường mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính một dãy nhà trọ tại khu F, phường H, thành phố M. Tại thời điểm kiểm tra, phòng trọ trong cùng của dãy trọ có 01 nam thanh niên có hình xăm cành hoa đào ở tay trái khai tên là Lường Văn B, sinh năm 1997, quê ở T, tỉnh Sơn La, hiện đang làm công nhân xây dựng khu đô thị V. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an yêu cầu B mở bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long trên đầu giường ra để kiểm tra thì thấy bên trong có 01 túi nilon đựng 08 gói nilon màu vàng, trong các gói đều chứa chất bột màu trắng, khi được hỏi về chất bột màu trắng có trong các gói nilon thì B khai đó là ma túy H2 mà B vừa mua được của 01 người đàn ông không quen biết với giá 600.000 đồng, để sử dụng.
Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho B, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 112/CT-VKS-MC, ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Lường Văn B về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Lường Văn B. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Lường Văn B từ 15 (mười năm) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lường Văn B.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà bị cáo Lường Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 28/9/2023, tại khu F, phường H, thành phố M, Lường Văn B có hành vi cất giấu trái phép 0,263g (không phẩy hai sáu ba gam) ma túy, loại Heroine, để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lường Văn B đã cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết ấn định mức hình phạt nghiêm trong khung đã truy tố đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số ma tuý thu giữ và vỏ bao gói đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập xử lý.
[7] Về nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lường Văn B là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc khu vực II theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và tại phiên tòa bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn B được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho B, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lường Văn B phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lường Văn B 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023.
*. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long.
(tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 21/2024/THA, ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).
*. Về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn B.
*. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |
Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 27/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 108/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn B phạm tôi "tàng trữ trái phép chất ma túy"
