Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HSST

Ngày 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm:

  • - Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Tuấn
  • - Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Nga, ông Phạm Quốc Trung
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bùi Thị Thảo.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hoà Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường. Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024 /TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024, ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ KHÁNH LY. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1984. Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: tổ dân phố M, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: không. Họ và tên bố: Nguyễn Văn T; họ và tên mẹ Đỗ Thị L.

Có chồng Đặng Đình V, sinh năm 1982 và 02 con lớn nhất sinh năm 2004 nhỏ nhất sinh năm 2014. Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: chị Bàn Thị L1, sinh năm 1993. Địa chỉ: xóm Ê, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Thị Khánh L2 đi xe taxi từ thành phố V lên thành phố H để gặp bạn là Nguyễn Đại V1, sinh năm 1996, cư trú tại: tổ D, phường T, TP H. Khoảng 13 giờ cùng, L2 đến thành phố H, do không liên lạc được với anh V1 nên L2 đi vào cửa hàng L4 tại tổ A, phường T, TP H của chị bàn Thị L3 để làm tóc. Tại đây, L3 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị L3 để lấy tiền trả khoản nợ vay trên App vay tiền online. Mặc dù trong tài khoản của L2 không có tiền và trong túi xách của L2 cũng không có tiền mặt nhưng L2 vẫn bảo chị L3 chuyển khoản cho L2 vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q ( M ) số tài khoản 28668988888 chủ tài khoản NGUYEN THI KHANH LY số tiền 10.000.000 đồng ( mười triệu đồng ), L2 hứa sau khi làm tóc xong sẽ trả tiền cho chị L3.

Do tin tưởng vì L2 là khách hàng đang làm tóc tại quán nên chị L3 đã sử dụng điện thoại di động chuyển 10.000.000 đồng từ Ngân hàng TMCP Q (M) số tài khoản 392542828 chủ tài khoản BAN THỊ LAN vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q (M) 28668988888 chủ tài khoản NGUYEN THI KHANH LY. Nhận được tiền L2 tiếp tục chuyển 10.000.000đồng đến Ngân hàng TMCP Á (A) số tài khoản 39188147 ( Chủ tài khoản tên Tôn Thất Dư P, địa chỉ theo CCCD: tổ B, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, số CCCD 04820500368 ). Sau khi chuyển tiền xong chị L3 tiếp tục làm tóc cho L2.

Khoảng 30 phút sau không thấy L2 trả tiền, chị L3 có hỏi và đòi số tiền 10.000.000 đồng đã chuyển khoản, do không có tiền trả cho chị L3 nên L2 quanh co và hứa sau khi làm tóc xong sẽ trả tiền và tiền làm tóc. Lúc này, chị L3 yêu cầu phải trả xong mới tiếp tục làm tóc, L2 gọi điện nhờ anh V1 hỏi vay tiền nhưng không có tiền, V1 đi xe ô tô đến cửa hàng làm tóc, L2 lên xe bảo V1 chở đi. Lo sợ L2 không trả tiền nên chị lan đã lên xe đi cùng. Do Ly không có mối quan hệ nào trên địa bàn thành phố H nên L2 đã yêu cầu V1 đi lòng vòng xung quanh. Thấy L2 có biểu hiện gian dối chị L3 đã yêu cầu đưa L2 đến Công an thành phố H để giải quyết. Tại cơ quan điều tra, L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H đã có công văn số 1193 ngày 25/4/2024 yêu cầu Ngân hàng M in sao kê giao dịch nhận chuyển tiền của số tài khoản 392542828 và tài khoản 28668988888 và đã nhận được văn bản cung cấp thông tin đối với 02 tài khoản trên.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố.

Cáo trạng số 102/CT-VKS, ngày 29/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Thị Khánh L2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử phạt Nguyễn Thị Khánh L2 mức án từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng tù treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Về trách nhiệm dân sự: không đề cập. Về vật chứng: đề nghị tịch thu xung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng IMEI 353053090149065 của bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; Về án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét, cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

***

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1/ Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng, do vậy các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều được thực hiện hợp pháp.

2/ Về nội dung:

Nguyễn Thị Khánh L2 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 14/4/2024, tại cửa hàng L4 địa chỉ: tổ A, phường T, TP H, L2 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Bàn Thị L1. Mặc dù L2 không có tiền trong tài khoản cũng như tiền mặt trong người nhưng đã có hành vi gian dối nói với chị L1 chuyển khoản cho mượn 10.000.000 đồng để trả nợ rồi tí làm tóc xong L2 sẽ thanh toán luôn cả tiền làm tóc, do đang là khách hàng nên chị L1 chuyển khoản 10.000.000 đồng vào tài khoản của L2. Nhận được tiền L2 chuyển ngay đến số tài khoản 39188147 có tên Tôn Thất Dư P. Sau đó L2 không có tiền trả cho chị L1 nên bị chị L1 đưa đến công an Thành phố H trình báo.

Trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các chứng cứ xác định bị cáo có tội gồm có: Đơn trình báo của người bị hại, đơn đầu thú của bị cáo, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của Nguyễn Thị Khánh L2; và các giấy tờ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Khánh L2 đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; đã khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại là chị Bàn Thị L1 số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng, về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, bị cáo có nơi cơ trú rõ ràng, khi quyết định hình phạt, HĐXX xét thấy chưa cần thiết phải áp dụng biện pháp nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích.

[3] Về vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng IMEI 353053090149065 của bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, HĐXX cần tịch thu xung công quỹ.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho chị Bàn Thị L1 số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng ). chị L1 không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không đề cập xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

1/Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Khánh L2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thị Khánh L2 09 ( Chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( Mười tám ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/8/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Khánh L2 cho UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về hành vi nào khác.

2/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu xung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, dung lượng 64Gb, màu trắng số máy IMEI 1 353053090149065 của Nguyễn Thị Khánh L2 theo như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng số 126/BB/24 ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Chi cục THADS thành phố H.

3/ Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Thị Khánh L2 phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

4/ Quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo. Người bị hại vắng mặt thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận cấp hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Hòa Bình
  • - VKSND TP Hòa Bình;
  • - VKDNDTỉnh Hòa Bình
  • - Chi cục THADS TP Hòa Bình;
  • - CATP Hòa Bình;
  • - Trại tạm giam
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Duy Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 108/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Khánh Ly phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Thị Khánh Ly 09 ( Chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( Mười tám ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/8/2024. Giao bị cáo Nguyễn Thị Khánh Ly cho UBND thị trấn Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger