Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Bà Nguyễn Thị Lương

ảng Phong - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị N; Nơi ĐKTT: Thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Thôn B, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đinh Văn T; Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Tạ Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Đinh Văn T do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 09 tháng 7 năm 2015. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng gia đình anh T ở thôn 1, xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mặt khác anh T nghiện ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, chị có góp ý khuyên anh T đi cai nghiện nhưng anh T không tiếp thu. Vì vậy, vợ chồng thường xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2023 chị đã bỏ về cư trú cùng với bố, mẹ đẻ chị ở thôn B, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng. Từ khi chị bỏ đi đến nay, anh T nhiều lần đến tìm chị, nhưng không lần nào chị trở về đoàn tụ cùng anh T. Từ tháng 5 năm 2023 đến nay chị và anh T sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Văn T.

Về con chung: Chị và anh Đinh Văn T có hai con chung là Đinh Thị Ánh H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2015 và Đinh Hùng A, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2023. Từ khi chị bỏ đi đến nay, hai con chung do chị nuôi dưỡng. Chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Đinh Hùng A cho chị 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đinh Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T để anh T đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Tạ Thị N xin ly hôn nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Tạ Thị N được ly hôn anh Đinh Văn T. Về con chung: Giao cho chị N nuôi dưỡng các con chung Đinh Thị Ánh H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2015 và Đinh Hùng A, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2023 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Đinh Hùng A cho chị N 3.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đến khi con chung Đinh Hùng A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết về tài sản. Chị Tạ Thị N phải chịu án phí ly hôn, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Tạ Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Đinh Văn T. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đinh Văn T hiện đang cư trú tại thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Đinh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Văn T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị N và anh Đinh Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09 tháng 7 năm 2015, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Tuy anh Đinh Văn T không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh T về việc chị Tạ Thị N xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Tạ Thị N và anh Đinh Văn T đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Tạ Thị N và anh Đinh Văn T là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Tạ Thị N đối với anh Đinh Văn T.

[5] Về con chung: Chị Tạ Thị N và anh Đinh Văn T có hai con chung là Đinh Thị Ánh H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2015 và Đinh Hùng A, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2023. Chị N đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng, anh T không có quan điểm về con chung. Con chung Đinh Thị Ánh H có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, hiện tại chị N và anh T đều làm nghề cắt tóc, gội đầu nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị N và anh T như nhau. Con chung hiện do chị N trực tiếp nuôi dưỡng đang ổn định và phát triển tốt. Nên để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao hai con chung cho chị N nuôi dưỡng.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Như trên đã nhận định, chị N và anh T có điều kiện nuôi dưỡng con chung như nhau. Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con", Vì vậy, chị N yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi một con chung Đinh Hùng A cho chị là có căn cứ. Tuy nhiên mức cấp dưỡng nuôi con chị N yêu cầu 3.000.000 đồng/01 tháng là cao. Nên chỉ buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Đinh Hùng A cho chị N 2.000.000 đồng/01 tháng là hợp lý.

[7] Về tài sản chung: Chị Tạ Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Đinh Văn T không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[8] Về án phí sơ thẩm: Chị Tạ Thị N là nguyên đơn nên chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Đinh Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Tạ Thị N nên anh T phải chịu án phí án phí cấp dưỡng nuôi con.

[9] Về quyền kháng cáo: Chị Tạ Thị N và anh Đinh Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị N được ly hôn anh Đinh Văn T.
  2. Về con chung: Giao các con chung Đinh Thị Ánh H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2015 và Đinh Hùng A, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2023 chị Tạ Thị N nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Đinh Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Đinh Hùng A cho chị Tạ Thị N 2.000.000 (hai triệu) đồng/01 tháng. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đến khi con chung Đinh Hùng A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về tài sản chung: Chị Tạ Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Đinh Văn T không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
  5. Về án phí: Chị Tạ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Tạ Thị N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010730 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Tạ Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

    Anh Đinh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Đức Cảnh Trương Minh Huế
Nguyễn Thị Lương  

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THA DS huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 09 tháng 7 năm 2015);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger