TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 108/2024/HS-ST Ngày 20 tháng 6 năm 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST- HS ngày 08/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/HSST- QĐ ngày 24/5/2024 đối với bị cáo:
| Họ và tên: Phạm Sơn D | Giới tính: Nam | Sinh năm: 1999 |
| Tên gọi khác: Không | ||
| Đăng ký HKTT: Thôn N - Xã B - Huyện M - Tỉnh Lào Cai | ||
| Nơi ở hiện tại: LK1 B15 Khu đô thị S - Xã A - Huyện H - Hà Nội | ||
| Quốc tịch: Việt Nam. | Dân tộc: Kinh. | Tôn giáo: Không. |
| Nghề nghiệp: Lao động tự do | Trình độ học vấn: 12/12 | |
| Họ và tên cha: Phạm Văn Lân | ||
| Họ và tên mẹ: Đào Thị T | ||
| Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út. | ||
| Tiền án, tiền sự: Không | ||
| Tạm giữ: 03/02/2024 | Tạm giam: 09/02/2024 | Số giam: 972E2/22 |
| Bị cáo có mặt tại phiên tòa | ||
* Người bị hại:
| Chị Định Thị Tuyết N | Sinh năm: 1999 |
| HKTT: Bản C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. | |
| Chị N có mặt tại phiên tòa. | |
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
| Công ty T1 | |
| Trụ sở chính tại: Lầu H, 9, 10 Tòa nhà G, số B đường P, phường F, quận B, TP .. Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng C, tòa nhà VIT, số E K, phường N, quận B, TP .. | |
| Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N1- Tổng giám đốc. | |
| Người được ủy quyền: Ông Cao Văn C – Chức vụ: Chuyên viên Điều tra nội bộ. | |
| Ông C có mặt tại phiên tòa. |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01/02/2024, chị Đinh Thị Tuyết N2 (sinh năm 1999; HKTT: Bản C, Thị trấn Í, Huyện M, Tỉnh Sơn La) đến Công an phường H trình báo về việc: Do có nhu cầu vay vốn tiêu dùng cá nhân, ngày 10/12/2023, chị N2 gặp Phạm Sơn D - tự giới thiệu là nhân viên tín dụng của Ngân hàng TMCP T2 (T3) tại quán cà phê, địa chỉ B H - phường H - quận H - Hà Nội. Tại đây, D yêu cầu chị N2 cung cấp các thông tin cá nhân, Giấy phép lái xe, căn cước công dân, đồng thời quét hình ảnh khuôn mặt chị N2 để đăng ký tài khoản ứng dụng online. Sau khi hoàn tất thủ tục, D hẹn 01 - 02 ngày sau thông báo kết quả. Đến ngày 13/12/2023, chị N2 chủ động liên lạc với D và được thông báo do hệ thống thẩm định của ngân hàng gặp trục trặc nên cần chờ thêm thời gian. Lúc này, do nhu cầu vay không còn nên chị N2 yêu cầu D hủy việc mở hồ sơ vay vốn. Ngày 29/01/2024, chị N2 kiểm tra tình trạng tín dụng của bản thân thì phát hiện khoản nợ thẻ tín dụng 10.000.000 đồng và khoản vay trả góp 12.000.000 đồng trong 18 tháng tại Công ty T1.
Căn cứ trình báo của chị Đinh Thị Tuyết N2, Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Sơn D đến làm việc. Ngày 02/02/2024, Phạm Sơn D đến Cơ quan Công an đầu thú. (BL 22, 45)
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Sơn D: 01 điện thoại mang nhãn hiệu Iphone 14 ProMax, 128GB màu tím đã qua sử dụng, IMEI: 350089114005464. (BL 25)
Tiến hành kiểm tra điện thoại của Phạm Sơn D, biên bản kiểm tra thể hiện: tại ứng dụng HD Saison có tài khoản đăng nhập mang tên "1999dinhnhung014199008145”. Dần xác nhận đây là tài khoản D đã tạo cho chị Đinh Thị Tuyết N2 tại công ty T1, sau đó chiếm đoạt tài khoản trên. (BL 26 - 29)
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Sơn D khai: Khoảng tháng 02/2023, D có quen biết một người phụ nữ tên L, sử dụng tài khoản facebook “Hương Ly” (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể) và rủ L cùng đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới hình thức: Tìm người có nhu cầu mở thẻ tín dụng và vay tiền online để hướng dẫn làm thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP P (H1). Sau khi khách điền đầy đủ thông tin, D và L sẽ chiếm đoạt tiền trong thẻ tín dụng của khách. Khi tìm được khách, L sẽ cung cấp thông tin cho D và D sẽ hẹn gặp khách để hướng dẫn mở thẻ tín dụng phi vật lý của các Ngân hàng mà khách có nhu cầu. Nếu chiếm đoạt được tiền của khách, D sẽ chia cho L 10% số tiền chiếm đoạt được. Tháng 12/2023, L sử dụng tài khoản zalo tên “Lucia”, cung cấp cho D thông tin liên hệ của chị Đinh Thị Tuyết N2, chị N2 muốn mở khoản vay tại Ngân hàng T4. D đã liên hệ với chị N2 qua mạng xã hội zalo và giới thiệu D là nhân viên Ngân hàng T4, hẹn gặp chị N2 để hỗ trợ mở khoản vay. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, D gặp chị N2 tại quán cà phê có địa chỉ B H - phường H - quận H - Hà Nội. Tại đây, D yêu cầu chị N2 để Dần chụp ảnh Căn cước công dân, Giấy phép lái xe và chụp lại khuôn mặt của chị N2. Sau đó, D sử dụng các thông tin trên để mở thẻ tín dụng phi vật lý với số tiền 10.000.000 đồng và một khoản vay tiêu dùng 12.000.000 đồng qua ứng dụng của Công ty T1. Sau khi mở thẻ thành công, D đã rút số tiền 10.000.000 đồng trong thẻ tín dụng phi vật lý mang tên chị N2 bằng hình thức mua sắm trực tuyến (Online). Dần truy cập vào mạng xã hội Facebook, tìm các dịch vụ rút tiền trong thẻ phi vật lý, nhờ người làm “dịch vụ chuyển/rút tiền” đọc số tài khoản để Dần nhắn tin qua facebook cho bên “dịch vụ rút tiền trong thẻ phi vật lý”. Sau đó, “dịch vụ rút tiền trong thẻ phi vật lý” sẽ chuyển khoản cho người làm “dịch vụ chuyển/rút tiền” và D sẽ nhận tiền từ người làm “dịch vụ chuyển/rút tiền". Để thực hiện thao tác trên, D đến 01 cửa hàng có dịch vụ chuyển/rút tiền tại khu vực đường X - quận N - Hà Nội (không nhớ địa chỉ cụ thể), nhờ nhân viên dịch vụ của cửa hàng làm thủ tục rút tiền và rút được số tiền 10.000.000 đồng, trừ phí rút tiền từ thẻ phi vật lý là 800.000 đồng; D nhận được số tiền 9.200.000 đồng. Sau đó, D đi sang một điểm dịch vụ chuyển tiền khác và nhờ chuyển số tiền 1.000.000 đồng cho L bằng cách quét mã QR tài khoản ngân hàng do L gửi (đây là tiền phần trăm D chia cho L khi chiếm đoạt được tiền của chị N2). Số tiền còn lại, D đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, D đã chặn liên lạc trên ứng dụng Z và chặn số điện thoại của chị N2.
Cơ quan điều tra đã dẫn giải Phạm Sơn D chỉ địa điểm hẹn gặp chị N2 để mở tài khoản vay tín dụng rồi chiếm đoạt và tiến hành cho chị N2 nhận dạng Dần, xác nhận đúng. (BL 30 - 35)
Xác minh tại Công ty T1: Thông tin tài khoản mang tên chị Đinh Thị Tuyết N2 gồm: 01 thẻ tín dụng phi vật lý số [...] với hạn mức chi tiêu là 10.000.000 đồng - số hợp đồng CD29655397 ngày 10/12/2023 và 01 khoản vay 12.000.000 đồng trả góp trong 18 tháng - hợp đồng vay số DL029656327 ngày 11/12/2023. (BL 82)
Tại Cơ quan điều tra, anh Cao Văn C - Chuyên viên điều tra nội bộ của Công ty T1 khai: Do khoản nợ thẻ tín dụng và hợp đồng vay tín dụng mang tên chị Đinh Thị Tuyết N2 nên chị N2 là người có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trường hợp chị N2 từ chối thanh toán khoản nợ thì công ty vẫn tính tiền lãi và tiền phạt trả chậm theo quy định của công ty, quy định của Ngân hàng N3 đối với các tổ chức tín dụng. Tính đến ngày 23/02/2023, chị N2 đã thực hiện việc giao dịch nộp số tiền 11.695.103 đồng để thanh toán tiền nợ thẻ tín dụng số [...] và nộp số tiền 15.963.000 đồng để thanh toán hợp đồng tín dụng số DL029656327. Hiện chị N2 đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ tại Công ty T1.
Đối với người phụ nữ tên L có nhiệm vụ tìm kiếm thông tin khách hàng cần lập thẻ tín dụng để cung cấp cho D, L sử dụng tài khoản facebook tên “Hương Ly” và tài khoản zalo tên “Lucia”, Cơ quan điều tra đã gửi Công văn đến Công ty cổ phần V yêu cầu cung cấp các thông tin liên quan đến tài khoản zalo tên “Lucia” nhưng không nhận được văn bản phúc đáp. Thông tin về tài khoản ngân hàng do L gửi đã được thu hồi, các đoạn tin nhắn đã bị xóa, không thể truy cập được nội dung. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ người phụ nữ mà D khai tên L để xử lý.
Đối với các yêu cầu về dân sự, gia đình Phạm Sơn D đã bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Đinh Thị Tuyết N2 số tiền 15.000.000 đồng và chị N2 đã sử dụng số tiền này thanh toán khoản nợ tại Công ty T1. Tại Cơ quan điều tra, chị N2 yêu cầu Phạm Sơn D bồi thường thêm số tiền 30.000.000 đồng do hành vi chiếm đoạt tài sản làm tổn hại về mặt tinh thần và đời sống của chị N2.
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Phạm Sơn D về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố và mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Chị N2 không yêu cầu bồi thường và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Chị N2 có yêu cầu công ty TNHH H2 trả lại 12 triệu đồng đã giải ngân cho khoản vay của chị và xóa nợ xấu cho chị.
Công ty TNHH H2 đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với yêu cầu của chị N2 thì công ty chấp hành theo bản án của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đây là loại tội phạm mới, gây hoang mang cao trong nhân dân và đề nghị áp dụng áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Phạm Sơn D thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, có đủ cơ sở kết luận khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, bị cáo đã có hành vi tải ứng dụng HD Saison và lấy các thông tin cá nhân của chị Đinh Thị Tuyết N2 để tạo lập tài khoản vay tiền trên ứng dụng online (thẻ tín dụng phi vật lý) của công ty T1 rồi sử dụng mạng internet và các thao tác điện tử truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của chị N2 để chiếm đoạt số tiền 10 triệu đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015.
Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn của mạng viễn thông, hoạt động của công ty và quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù, cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Về tang vật: tịch thu sung công điện thoại là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ tên L có nhiệm vụ tìm kiếm thông tin khách hàng cần lập thẻ tín dụng để cung cấp cho D, L sử dụng tài khoản facebook tên “Hương Ly” và tài khoản zalo tên “Lucia”, Cơ quan điều tra đã gửi Công văn đến Công ty cổ phần V yêu cầu cung cấp các thông tin liên quan đến tài khoản zalo tên “Lucia” nhưng không nhận được văn bản phúc đáp. Thông tin về tài khoản ngân hàng do L gửi đã được thu hồi, các đoạn tin nhắn đã bị xóa, không thể truy cập được nội dung. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ người phụ nữ mà D khai tên L để xử lý.
- Về dân sự: Tại phiên tòa, chị N2 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường do đó HĐXX không giải quyết.
- Đối với số tiền 12 triệu đồng có trong tài khoản tiền mặt của chị N2 do được ngân hàng giải ngân: Xét thấy chị N2 đã tất toán (gồm tiền gốc và tiền lãi) cả hai khoản vay (vay thẻ tín dụng và vay tiền mặt) ngày 23/2/2024 mặc dù số tiền vay trong tài khoản tiền mặt của chị N2 chưa được rút ra. Nghĩa vụ thanh toán của chị N2 đã hoàn thành và chị N2 cũng không có khoản vay khác nào tại công ty TNHH H2. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH H2 đồng ý hoàn trả số tiền 12 triệu đồng này cho chị N2. Tại phiên tòa, công ty có ý kiến liên quan đến số tiền này sẽ thực hiện theo quyết định của Tòa án. Vì vậy, Công ty TNHH H2 có trách nhiệm hoàn trả chị N2 số tiền trên và thực hiện các thủ tục xóa nợ xấu liên quan đến 02 khoản vay nói trên của chị N2 tại công ty TNHH H2 theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phạm Sơn D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Sơn D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/02/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím đã qua sử dụng.
- (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm, tình trạng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2024).
- Công ty H2 có trách nhiệm hoàn trả chị N2 số tiền 12 triệu đồng và thực hiện các thủ tục xóa nợ xấu liên quan đến 02 khoản vay nói trên của chị N2 tại công ty TNHH H2 theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thu Hương |
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về hình sự sơ thẩm về tội "sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: điểm a khoản 1 điều 290 BLHS
