Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-4-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm

Ông Lý Đình Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Ninh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 15/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/03/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị N, sinh năm 1992 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    Địa chỉ: số nhà B, ngõ A, đường N, huyện T, thành phố T, Đài Loan.

    - Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Chị Đỗ Thị Nhật L, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (văn bản ủy quyền ngày 13/9/2023, không triệu tập).

  2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ).

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1960 (vắng mặt)
    • - Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

    Cùng Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Phan Thị N, trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2012, sau một thời gian tìm hiểu, được sự nhất trí của hai bên gia đình, chị và anh Đỗ Văn T kết hôn với nhau. Khi kết hôn, chị và anh T có tổ chức lễ cưới theo phong tục, truyền thống địa phương và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu khi mới kết hôn, chị và anh T chung sống khá hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng đôi khi có phát sinh mâu thuẫn nhưng đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, vợ chồng đều tự giải quyết được với nhau. Năm 2014, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, chị và anh T quyết định đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Chị đi trước còn anh T đi sau. Khi sang đến Đài Loan, do vợ chồng làm việc tại hai công ty khác nhau nên không ở cùng nhau. Thời gian đầu, chị và anh T thường xuyên liên lạc, hỏi han, quan tâm, chăm sóc, động viên nhau cùng làm ăn, để vun đắp cho tương lai. Tuy nhiên, một khoảng thời sau anh T có biểu hiện chểnh mảng, không chịu tập trung làm ăn tích góp, thường xuyên chơi game. Số tiền anh T kiếm được chỉ đủ phục vụ nhu cầu bản thân anh T. Trong khi đó, chị thường xuyên phải tăng ca, làm thêm, tiết kiệm tiền để gửi về cho bố mẹ chồng lo trang trải cuộc sống. Mỗi lần thấy anh T như vậy chị đều nói chuyện nhẹ nhàng, khuyên bảo anh, nhưng sau tất cả anh T đều bỏ ngoài tai, tỏ thái độ thờ ơ, tiếp tục lao vào chơi game với tần xuất ngày một nhiều hơn. Sự việc trên diễn ra lặp đi lặp lại nhiều lần, đỉnh điểm nhất là vào năm 2021, chị và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tiếp tục nói chuyện được nữa. Một thời gian sau khi anh bỏ đi, chị đã chủ động liên lạc lại với anh T nhưng không được do anh T đã chặn số điện thoại của chị và chuyển nơi làm việc mới. Chị cũng đã nhiều lần liên hệ với gia đình anh T ở Việt Nam thì được biết anh T vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình. Tuy nhiên, khi chị hỏi gia đình anh T về số điện thoại, địa chỉ nơi ở, nơi làm việc mới của anh T thì gia đình anh hết lần này đến lần khác đều từ chối cung cấp cho chị, với lý do anh T đã yêu cầu gia đình anh không được cho chị biết địa chỉ của anh T ở Đài Loan.

Nay chị xác định chị và anh T không còn tình cảm với nhau, việc tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng không những không mang lại hạnh phúc mà còn làm khổ nhau hơn. Vì vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh T có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013. Hiện nay, cháu N1 đang ở với ông bà nội là ông Đỗ Văn T1 và bà Đỗ Thị L1 và được ông bà nuôi dưỡng và chăm sóc. Nay khi Toà án giải quyết ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cháu N1 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do chị và anh T không có mặt ở Việt Nam nên chị đề nghị Tòa án tạm giao cháu N1 cho ông T1 và bà L1 nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian chị và anh T hết hạn hợp đồng trở về Việt Nam sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không đề nghị Toà án xem xét giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con chung trong quá trình giải quyết vụ án.

Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh T không có tài sản chung vì vậy chị đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết vấn đề tài sản chung vợ chồng.

Về công nợ chung vợ chồng: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh T không nợ chung với ai, cũng không cho ai vay nợ chung vì vậy chị đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết vấn đề công nợ chung vợ chồng.

Ngoài ra chị N trình bầy: Do mâu thuẫn Vợ chồng giữa chị và anh T không thể hòa giải được nên chị đề nghị không mở phiên hòa giải giữa chị và anh T. Do điều kiện ở xa không thể về Việt Nam tham dự phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa chị và anh T chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị, chị ủy quyền chi chị Đỗ Thị Nhật L, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo nộp tạm ứng án phí và các chi phí tố tụng khác, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Người đại diện theo ủy quyền cho chị Phan Thị N là chị Đỗ Thị Nhật L, trình bầy:

Chị là người đại diện theo ủy quyền cho chị Phan Thị N, chị N đã ủy quyền cho chị (nộp đơn khởi kiện, giao nộp các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, nhận các thông báo giấy báo phiên tòa và các văn bản tố tụng khác do Tòa án gửi, nhận trích lục bản án, ký nhận các biên bản xác nhận đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án) theo Giấy ủy quyền ngày 13/09/2023 có điểm chỉ và ký xác nhận của chị N. Chị và chị N vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại và chị đã thông báo cho chị N biết về việc Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của chị N. Chị đồng ý nhận những nội dung dung ủy quyền này do chị N ủy quyền cho chị. Về nội dung khởi kiện, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T. Về con chung, chị N và anh T có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013 hiện nay cháu Đỗ Thị Tâm N1 đang do bà N2 cháu là bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1963, địa chỉ tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang nuôi dưỡng. Để thuận lợi và ổn định cho cháu Tâm N1 học tập và sinh hoạt chị N đồng ý giao cháu Tâm N1 cho anh Đỗ Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị và anh T hiện nay đang cư trú và lao động ở nước ngoài, chị đề nghị Tòa án tạm giao cho bà L1 nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tâm N1. Về cấp dưỡng nuôi cháu Tâm N1, chị và anh T, bà L1 tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chi phí tố tụng là tiền giám định đường vân của chị N, chị N tự nguyện chịu cả số tiền là 3.240.000 đồng mà Phòng K- Công an tỉnh B thu, chị không có ý kiến gì.

Anh Đỗ Văn T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L1 và ông Đỗ Văn T1 là bố mẹ đẻ anh Đỗ Văn T trình bầy: Anh Đỗ Văn T, chị Phan Thị N là con dâu của ông, bà. Anh Tú và chị N hiện nay đều cư trú và lao động ở Đài Loan. Do vợ chồng anh T và chị N mâu thuẫn, không còn tình cảm với nhau, chị N có đơn xin ly hôn anh T. Gia đình ông, bà vẫn liên hệ thường xuyên qua điện thoại với anh T, gia đình bà đã nhiều lần yêu cầu anh T cung cấp địa chỉ cụ thể ở Đài Loan, nhưng anh T không cung cấp cho gia đình ông, bà biết. Gia đình ông, bà đồng ý nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án số: 280/TB-TLVA ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các văn bản tố tụng, thông báo của Tòa án đối với anh Đỗ Văn T, cam kết sẽ thông báo lại ngay cho anh T. Về con chung vợ chồng anh T và chị N có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013. Từ khi anh T và chị N đi lao động nước ngoài cháu N1 do vợ chồng ông, bà chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Tú, chị N ly hôn, do hiện nay anh T và chị N đang lao động và cư trú ở nước ngoài vợ chồng ông, bà đồng ý chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu N1 đến khi vợ chồng anh T, chị N hết hạn hợp đồng về nước. Về cấp dưỡng, nuôi cháu N1 vợ chồng ông, bà không có yêu cầu gì.

Cháu Đỗ Tâm N1 trình bầy: Cháu là con bố Đỗ Văn T, mẹ Phan Thị N. Do bố mẹ cháu có mâu thuẫn, mẹ cháu có làm đơn xin ly hôn bố cháu. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn nguyện vọng của cháu được ở với bố là Đỗ Văn T

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Phan Thị N, bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn T1 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phan Thị N; Biên bản làm việc với bố, mẹ đẻ anh Đỗ Văn T là ông Đỗ Văn T1 và bà Đỗ Thị L1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn chị N và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn T1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh Đỗ Văn T vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do vậy, xét xử vắng mặt chị N, anh T và bà L1, ông T1 theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 và khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: cho chị Phan Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.

Về con chung: giao cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013 cho anh T nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cháu N1 cho bà L1, ông T1 nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị N không phải cấp cấp dưỡng nuôi con cùng anh T. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về chi phí tố tụng, giám định đường vân chị N phải chịu là 3.240.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về các tài liệu yêu cầu giám định của chị Phan Thị N để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của chị N, thì thấy: tại đơn trưng cầu giám định ngày 13/09/2023 chị N trình bầy: Hiện nay chị đang khởi kiện xin ly hôn với anh Đỗ Văn T, sinh năm 1989. Thường trú: tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chị đang đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, không có mặt ở địa phương để có căn cứ chị tự nguyện điểm chỉ xác thực vào các văn bản trong hồ sơ khởi kiện gửi Tòa án, chị đề nghị giám định vân tay trên các tài liệu gửi theo đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án thu thập tài liệu để giám định.

Ngày 06/11/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định trưng cầu giám định số: 280/2023/QĐ-TCCGĐ, gửi Phòng K- Công an tỉnh B. Yêu cầu giám định đường vân tại các tài liệu do chị N nộp tại Tòa án với các tài liệu thu thập gồm bản sao tờ khai chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh B cấp, bản sao danh chỉ bản mang tên Phan Thị N. Nội dung giám định: Dấu vân tay mầu đỏ in dưới mục in trên các tài liệu gửi giám định ký hiệu từ A1 đến A7 so với dấu vân tay trên bản sao D bản, chỉ bản số [...], mang tên Phan Thị N, sinh ngày 25/04/1992 (ký hiệu M1, M2) do Phòng C về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp có phải là của cùng một người không?

Tại Kết luận giám định số: 2360/KL- KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vân tay mầu đỏ các dưới mục “Dấu vân tay trỏ phải”, “Dấu vân tay trỏ phải” trên các tài liệu gửi giám định ký hiệu từ A1 đến A7 so với dấu vân tay trên bản sao D bản, chỉ bản số [...], mang tên Phan Thị N, sinh ngày 25/04/1992 (ký hiệu M1, M2) do Phòng C về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.
  2. Dấu vân tay mầu đỏ các dưới mục “Dấu vân tay trỏ trái”, “Dấu vân tay trỏ trái” trên các tài liệu gửi giám định ký hiệu từ A1 đến A7 so với dấu vân tay trên bản sao D bản, chỉ bản số [...], mang tên Phan Thị N, sinh ngày 25/04/1992 (ký hiệu M1, M2) do Phòng C về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

Do vậy, Hội đồng xét xử xác nhận các tài liệu của chị N nộp là hợp pháp và được chấp nhận.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N khởi kiện xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ công văn số: 28938/QLXNC-P3 ngày 31/10/2023 của Cục Q- Bộ C1 và Công văn số 3102/QLXNC ngày 01/11/2023 của Phòng Q1- Công an tỉnh B cung cấp chị Phan Thị N đã xuất cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 08/06/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh Đỗ Văn T đã xuất cảnh gần nhất ngày 26/03/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị N, anh T được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh T là bị đơn có nơi thường trú tại: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có nguyên đơn và bị đơn đều đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4].Về việc vắng mặt đương sự: Đối với nguyên đơn chị Phan Thị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn T1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, bà L1, ông T1.

Đối với bị đơn là anh T: Căn cứ Biên bản xác minh thông tin cư trú số do Công an thị trấn N (nay là phường N), thị xã V, tỉnh Bắc Giang cung cấp Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh T ở Việt Nam là: tổ dân phố N, thị trấn N (nay là phường N), thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh T thông qua gia đình và đề nghị gia đình anh T thông báo cho anh T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Phan Thị N và anh Đỗ Văn T. Gia đình anh T cho biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị D1 tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5]. Về hôn nhân: Chị Phan Thị N và anh Đỗ Văn T kết hôn ngày 11/05/2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang). Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị N, anh T phát sinh mâu thuẫn. Chị N khởi kiện xin ly hôn anh T.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử thấy: sau khi kết hôn chị N và anh T chung sống với nhau được một thời gian. Năm 2014 chị N đi lao động ở Đài Loan. Đến năm 2017 anh T cũng đi lao động ở Đài Loan. Theo chị N trình bầy, mới sang vợ chồng còn quan tâm, hỏi han nhau. Nhưng đến năm 2021, chị và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tiếp tục nói chuyện được nữa. Một thời gian sau khi anh bỏ đi, chị đã chủ động liên lạc lại với anh T nhưng không được do anh T đã chặn số điện thoại của chị và chuyển nơi làm việc mới. Chị cũng đã nhiều lần liên hệ với gia đình anh T ở Việt Nam thì được biết anh T vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình. Tuy nhiên, khi chị hỏi gia đình anh T về số điện thoại, địa chỉ nơi ở, nơi làm việc mới của anh T thì gia đình anh hết lần này đến lần khác đều từ chối cung cấp cho chị, với lý do anh T đã yêu cầu gia đình anh không được cho chị biết địa chỉ của anh T ở Đài Loan. Vợ chồng chị không liên lạc với nhau và quan tâm đến nhau từ lâu và không có bất kỳ mối liên hệ nào nữa, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ lâu, hiện không có liên lạc gì. Ngoài ra ông T1, bà L1 cũng trình bầy chị N, anh T đã mâu thuẫn không còn tình cảm với nhau. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị N, anh T đã ly thân một thời gian dài, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6]. Về nuôi con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013. Hiện nay chị và anh T đều đang ở nước ngoài nên cháu Tâm N1 đang ở cùng ông bà nội là ông T1, bà L1. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu Tâm N1 cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà L1, ông T1 chăm sóc nuôi dưỡng, bà lộc, ông T1 đồng ý nuôi dưỡng cháu Tâm N3 itrong thời gian chị N và anh T ở nước ngoài, cháu Tâm N1 cũng có nguyện vọng được ở cùng bố.

Xét yêu cầu giao con chung cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử thấy: chị N, anh T đều đang lao động ở nước ngoài nên không đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Tuy nhiên, cháu Tâm N1 từ trước đến nay vẫn chung sống cùng anh T, bà L1, ông T1 cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Bà L1, ông T1 đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 đến khi anh T về nước sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị N, giao cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013 cho anh Đỗ Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Đỗ Thị Tâm N1 cho bà L1, ông T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài là phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của cháu N1, cũng như nguyện vọng của cháu N1 và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn chị N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp chị N có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[7]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về tài sản, công nợ: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9]. Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về chi phí giám định: Số tiền chi phí giám định hết 3.240.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng). Chị Phan Thị N phải chịu toàn bộ số tiền chi phí giám định trên theo quy định tại Điều 160, Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác nhận chị N đã nộp đủ chi phí giám định.

[10]. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự bà L1, ông T1 hiện đang cư trú ở trong nước nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị N, anh T hiện đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, nên có thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 104; khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 479; Điều 271; Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị N.

  1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đỗ Thị Tâm N1, sinh ngày 01/03/2013 cho anh Đỗ Văn T nuôi dưỡng cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Đỗ Thị Tâm N1 cho bà bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn T1 nuôi dưỡng trong thời gian anh Đỗ Văn T ở nước ngoài.

    Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này.

  3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000065 ngày 23/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về chi phí giám định: Chị Phan Thị N phải nộp chi phí giám định là 3.240.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng). Xác nhận chị N đã nộp đủ chi phí giám định.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn T1 có quyền kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Phan Thị N, anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị N và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger