|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 108/2024/HSST Ngày: 17/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Phương
- Ông Luân Văn Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, thông báo mở lại phiên tòa số 436/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20/5/1959 tại huyện V, tỉnh Thái Bình; Hộ khẩu thường trú: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Chồng: Nguyễn Khánh H (đã chết); Con: có 03 con, con cả sinh năm 1983, con út sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 19/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bế Thị B, sinh năm 1961
- Lâm Thị L, sinh năm 1966
- Nông Thị L1, sinh năm 1959
- Nguyễn Thị Hải V1, sinh năm 1990
- Hà Thị T1, sinh năm 1965
Địa chỉ: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Địa chỉ: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Địa chỉ: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Địa chỉ: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Địa chỉ: Tổ F, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Người làm chứng: Bế Thị Thanh L2; sinh năm 1988
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn hưởng lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng nên trong khoảng thời gian từ tháng 8/2022 đến tháng 12/2023 Nguyễn Thị V có hành vi cho những người quen sống cùng khu phố vay tiền hưởng lãi suất, những người có nhu cầu sẽ đến trực tiếp nhà V thỏa thuận, nhận tiền mặt và trả lãi. Nguyễn Thị V đã cho 05 (năm) người vay số tiền cụ thể như sau:
1. Bế Thị B (sinh ngày: 13/3/1961; trú tại: tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) vay của V 02 (ba) lần:
- Lần thứ nhất: Ngày 23/8/2022, Bế Thị B đến nhà V vay số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000,đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho B 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng). Đến ngày 23/11/2023 B trả xong khoản vay trên cho V. Tổng cộng B đã trả lãi suất 15 tháng với tổng số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 15.534.247đ (mười lăm triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng);
- Lần thứ hai: Ngày 24/11/2023, Bế Thị B đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho B 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Đến ngày 15/12/2023 Bế Thị Thanh L2 (sinh ngày: 16/3/1988; trú tại: tổ A, phường S, thành phố C) là con gái của B đến trả khoản vay trên. Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 517.808đ (năm trăm mười bảy nghìn tám trăm linh tám đồng);
- Lần thứ ba: Ngày 09/12/2023, Bế Thị B đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Khi vay số tiền trên Nguyễn Thị V không cắt tiền lãi suất tháng đầu tiên và chưa được nhận tiền lãi từ khoản vay này.
2. Lâm Thị L (sinh ngày: 02/8/1966; trú tại: tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) vay của V 01 (một) lần:
- Ngày 24/8/2022, Lâm Thị L đến nhà V vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho L 8.800.000,₫ (tám triệu tám trăm nghìn đồng). Đến ngày 24/11/2023 L trả xong khoản vay trên cho V. Tổng cộng L đã trả lãi suất 15 (mười lăm) tháng với tổng số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 15.534.247đ (mười lăm triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
3. Nông Thị L1 (sinh ngày: 16/9/1959; trú tại: tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) vay của V 02 (hai) lần:
- Lần thứ nhất: Cuối tháng 5/2023, Nông Thị L1 đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho L1 4.400.000,đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Đến tháng 8/2023 L1 trả xong khoản vay trên cho V. Tổng cộng L1 đã trả lãi suất 03 (ba) tháng là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 1.553.425đ (một triệu năm trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng);
- Lần thứ hai: Ngày 20/11/2023, Nông Thị L1 đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000₫/1.000.000đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 600.000,₫ (sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho L1 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Vui bị cơ quan Công an phát hiện khi chưa đến thời hạn trả nợ, tuy nhiên số tiền lãi suất thực tế V đã nhận là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 517.808đ (năm trăm mười bảy nghìn tám trăm linh tám đồng).
4. Nguyễn Thị Hải V1 (sinh ngày: 06/9/1990; trú tại: tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) vay của V 01 (một) lần: Ngày 15/11/2023, Nguyễn Thị Hải V1 đến nhà V vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000,đ/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm. Vui giữ lại 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho V1 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng). Vui bị cơ quan Công an phát hiện khi chưa đến thời hạn trả nợ, tuy nhiên số tiền lãi suất thực tế V đã nhận là 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 1.035.616đ (một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
5. Hà Thị T1 (sinh ngày: 06/6/1965; trú tại: tổ F, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) vay của V 03 (bốn) lần:
- Lần thứ nhất: Đầu tháng 11/2023, Hà Thị T1 đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000,đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Khi vay T1 nhận đủ 5.000.000đ (năm triệu đồng). Sau 06 ngày Tiếng trả xong khoản vay trên cho V và trả lãi cho V số tiền 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 103.562đ (một trăm linh ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng).
- Lần thứ hai: Ngày 10/11/2023, Hà Thị T1 đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000,₫/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm. Khi vay T1 nhận đủ 5.000.000đ (năm triệu đồng). Sau 06 ngày Tiếng trả xong khoản vay trên cho V và trả lãi cho V số tiền 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 103.562đ (một trăm linh ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng).
- Lần thứ ba: Ngày 17/11/2023, Hà Thị T1 đến nhà V vay số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) với lãi suất 4.000đ/1.000.000,đ/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Vui cắt lại 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho T1 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Vui bị cơ quan Công an phát hiện khi chưa đến thời hạn trả nợ, tuy nhiên số tiền lãi suất thực tế V đã nhận là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị V thu lợi bất chính số tiền 517.808đ (năm trăm mười bảy nghìn tám trăm linh tám đồng).
- Lần thứ tư: Ngày 11/12/2023, Hà Thị T1 đến nhà V vay số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) với lãi suất 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Khi vay số tiền trên Nguyễn Thị V giữ lại số tiền 8.000.000₫ (tám triệu đồng) để trừ dần vào số tiền lãi. Ngày 15/12/2023, V bị cơ quan Công an phát hiện, do vậy ngày 18/12/2023 Tiếng trả khoản vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho V và V trả lại cho T1 8.000.000đ (tám triệu đồng). Như vậy, V chưa được nhận tiền lãi suất của khoản vay này.
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, tổ công tác Đ Công an thành phố C làm nhiệm vụ tại khu vực tổ I, phường S, thành phố C phát hiện và lập biên bản sự việc đối với Nguyễn Thị V có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tạm giữ của Nguyễn Thị V: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); 01 (một) tờ giấy vay tiền tên Bế Thị B ngày 09/12/2023; 01 (một) quyển vở mặt trước có chữ Poem Dream, màu xanh, có ghi chép nội dung vay tiền của người vay; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 plus màu trắng hồng, số imei: 356774088253356, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ màu đen dung lượng 32GB, mặt trên có chữ imou micro SD32GB, mặt dưới có chữ I32DXT82A841, tình trạng đã qua sử dụng.
Hồi 10 giờ 15 phút cùng ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị V tại tổ I, phường S, thành phố C. Quá trình khám xét phát hiện và thu giữ: 01 (một) tờ giấy kẻ ngang có ghi ngày 17/11/2023, tên người vay Hà Thị T1, được phát hiện thu giữ dưới đệm giường trong phòng ngủ của Nguyễn Thị V.
Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSTP ngày 07/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị V khai nhận cho 05 (năm) người gồm Bế Thị B, Lâm Thị L, Nông Thị L1, Nguyễn Thị Hải V1, Hà Thị T1 vay lãi nặng với với tổng số tiền 115.000.000,đ (một trăm mười lăm triệu đồng) với lãi suất từ 146%/năm (gấp 7,3 lần) đến 182,5%/năm (gấp 9,125 lần) so với mức lãi suất cao nhất 20%/năm quy định của Bộ luật Dân sự. T2 lợi bất chính số tiền 35.418.082,đ (ba mươi lăm triệu bốn trăm mười tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng). Bị cáo xác nhận đã được thanh toán đủ số tiền cho vay gốc và tiền lãi. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhã hiệu iphone 8 plus màu trắng hồng bị thu giữ, bị cáo xác nhận đây là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc với gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bế Thị B, Lâm Thị L, Nông Thị L1, Nguyễn Thị Hải V1, Hà Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bà Bế Thị B, Lâm Thị L, Nông Thị L1, Nguyễn Thị Hải V1 có yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, bà Hà Thị T1 không yêu cầu xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị V và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị V từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo là người già yếu, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, không đề nghị buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) là công cụ phương tiện phạm tội của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền lãi 20% mà bị cáo đã được nhận từ những người vay với số tiền là 5.621.917đ (Năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười bảy đồng) sung quỹ nhà nước.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính của Hà Thị T1 số tiền là: 724.932 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo phải trả lại cho người vay số lãi đã thu từ mức lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định cho bà Bế Thị B số tiền lãi là 16.052.055 đồng, trả lại cho bà Lâm Thị L số tiền là 15.534.247 đồng, trả lại cho bà Nông Thị L1 số tiền là 2.071.233 đồng, trả lại cho bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền là 1.035.616 đồng do bị cáo thu lợi bất chính.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) là công cụ phạm tội của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 plus màu trắng hồng, số imei: 356774088253356, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ màu đen dung lượng 32GB, mặt trên có chữ imou micro SD32GB, mặt dưới có chữ I32DXT82A841, tình trạng đã qua sử dụng.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, do bị cáo tuổi cao sức khoẻ yếu, không có thu nhập nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng đã triệu tập hợp lệ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2022 đến tháng 12/2023, Nguyễn Thị V có hành vi cho 05 (năm) người gồm Bế Thị B, Lâm Thị L, Nông Thị L1, Nguyễn Thị Hải V1, Hà Thị T1 vay lãi nặng với với tổng số tiền 115.000.000,đ (một trăm mười lăm triệu đồng) với lãi suất từ 146%/năm (gấp 7,3 lần) đến 182,5%/năm (gấp 9,125 lần) so với mức lãi suất cao nhất 20%/năm quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. T2 lợi bất chính số tiền 35.418.082,đ (ba mươi lăm triệu bốn trăm mười tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi cho vay lãi suất cao là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý thực hiện nhằm hưởng số tiền thu lợi bất chính là số tiền lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, gây thiệt hại về vật chất đối với người đi vay do phải trả một khoản lãi quá cao so với quy định. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.000.000,₫ (năm triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Xét bị cáo dùng tiền của mình để cho vay, không có việc huy động tiền vốn từ người khác, nguồn sống chính của bị cáo không phụ thuộc vào việc cho vay lãi nặng nên bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, việc xử nghiêm minh hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xét thấy, hành vi bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cho bị cáo được áp dụng theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sụng: Do bị cáo là người cao tuổi, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Đối với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) thu giữ đối với bị cáo Nguyễn Thị V. Quá trình điều tra xác định đây là tiền vay gốc bà Bế Thị Thanh L2 trả nợ thay Bế Thị B, số tiền này là vật chứng vụ án nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp lại số tiền gốc đã sử dụng vào việc phạm tội là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải trả lại cho những người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định là 35.418.082,đ (ba mươi lăm triệu bốn trăm mười tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng). Cụ thể: Trả lại cho Bế Thị B số tiền là 16.052.055đ (Mười sáu triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi năm đồng); Trả lại cho bà Lâm Thị L số tiền là 15.534.247đ (Mười năm triệu năm trăm ba mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi bẩy đồng), T3 lại cho bà Nông Thị L1 số tiền là 2.071.233đ (Hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng), T3 lại cho bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền là 1.035.616đ (Một triệu không trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, do đó, cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính là 724.932đ (Bảy trăm hai mươi tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp lại khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định mà bị cáo nhận được từ những người vay với số tiền là 5.621.317 (Năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm mười bảy đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 plus màu trắng hồng, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhớ màu đen dung lượng 32GB, mặt trên có chữ imou micro SD32GB, mặt dưới có chữ I32DXT82A841, tình trạng đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, trong vụ án này số tiền thu lợi bất chính bị cáo được hưởng là 35.418.082,đ (ba mươi lăm triệu bốn trăm mười tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng), mặc dù bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tại cơ quan Thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả nhưng so với số lợi bất chính bị cáo được hưởng là chưa đáng kể. Do đó, không có cơ sở cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các ý kiến khác của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm tại phiên toà. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị V được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
2. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị V 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị V cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị V có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật Thi hành án hình sự.
Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh đối với bị cáo Nguyễn Thị V kể từ ngày tuyên án.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụng Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước Tiền Việt Nam: 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Uỷ nhiệm chi số 10 ngày 20/5/2024.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp lại số tiền gốc đã sử dụng vào việc phạm tội là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp lại khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định mà bị cáo nhận được từ những người vay với số tiền là 5.621.317 (Năm triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm mười bảy đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải trả lại cho bà Bế Thị B số tiền là 16.052.055₫ (Mười sáu triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi năm đồng); Trả lại cho bà Lâm Thị L số tiền là 15.534.247đ (Mười năm triệu năm trăm ba mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi bẩy đồng), T3 lại cho bà Nông Thị L1 số tiền là 2.071.233đ (Hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng), T3 lại cho bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền là 1.035.616đ (Một triệu không trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính đã nhận của bà Hà Thị T1 với số tiền là 724.932đ (Bảy trăm hai mươi tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị V đã nộp số tiền 5.000.000,đ (năm triệu đồng) theo biên lai số 0001092 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng hồng, số IMEI theo quyết định chuyển vật chứng: 356774088253356, điện thoại đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy; 01 (một) thẻ nhớ màu đen dung lượng 32GB, mặt trên có chữ imou micro SD32GB, mặt dưới có chữ I32DXT82A841, tình trạng đã qua sử dụng.
Xác nhận toàn bộ vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 113 ngày 24/5/2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị V được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hanh |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Vui phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
