|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/DS-ST Ngày: 17/7/2024 “V/v Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ánh và ông Lê Văn Vững.
Thư ký phiên toà: Ông Hứa Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hải - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08/5/2024, ngày 29/5/2024, ngày 10/7/2024 và ngày 17/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 260/2022/TLST-DS ngày 06/7/2022, về việc “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-DS ngày 09/4/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1963;
- Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1961;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1961;
Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1996;
Anh Nguyễn Thanh N1, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông P, ông B, bà Á có mặt; Anh N, anh N1 và bà N2 vắng không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
bày:
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Thanh P trình
Nguồn gốc phần đất của ông là vào năm 2005 ông nhận chuyển nhượng của ông B diện tích ngang 4m, dài 36m, với giá là 7.500.000 đồng/mét ngang. Hai bên đã thực hiện việc mua bán xong, ông đã giao tiền đủ, còn ông B đã giao phần đất này cho ông sử dụng từ đó cho đến nay. Ông được cấp giấy chứng nhận vào năm 2005, khi cấp giấy thì có Cơ quan chuyên môn của huyện kết hợp với địa chính thị trấn đo đạc phần đất này. Từ khi được cấp giấy đất đến nay ông chưa đổi giấy lần nào. Khi mua đất thì hai bên có xuống trụ đá ở 02 đầu nhưng hiện nay chỉ còn 01 trụ giáp chướng 200, còn trụ phía sau hậu thì ông B khi đào ao nuôi cá đã mốc trụ đá này đi nên hiện nay trụ đá này không còn. Sau đó, ông B tự ý xuống trụ đá phía sau như hiện nay nhưng trụ này không đúng vị trí ban đầu lấn qua phần đất của ông nên ông không đồng ý. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ông đang giữ ở nhà, không có thế chấp cho cá nhân hoặc tổ chức nào. Đối với giấy chứng quyền sử dụng đất của ông cấp cho hộ và hộ của ông gồm: Ông, bà Á, anh N, anh N1 và các cháu nội hiện nay còn nhỏ đứa lớn tuổi nhất khoảng 06 tuổi, ngoài ra không còn ai khác. Đối với phần đất này là tài sản chung của vợ chồng ông, các con của ông không có công sức đóng góp gì vào phần đất này. Hiện trạng phần đất đang tranh chấp ranh không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định.
Theo đơn khởi kiện ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B di dời các cây Mít và cây D để trả cho ông phần đất đầu ngoài ngang 1m từ chướng 200 trở vô, còn phía giáp nhà máy 5 Tô ngang 2,4m chạy dài 36m, diện tích 30,6m², thuộc 01 phần thửa 2372 và 2378, cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện do hộ ông đang đứng tên quyền sử dụng đất. Nay ông xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B trả lại cho ông phần đất đã lấn chiếm diện tích 24,5m² theo như Sơ đồ đo đạc của Tòa án, đất thuộc 01 phần thửa 2372, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Văn B trình bày:
Ông không thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông P. Nguồn gốc phần đất của ông là vào khoảng năm 1976 ông mua lại của ông Lê Văn S và bà Phạm Thị K. Việc mua bán đã diễn ra rất lâu nên ông không nhớ rõ chi tiết nhưng hai bên đã thực hiện việc mua bán xong. Đến khoảng sau năm 1993 (Không nhớ năm nào) thì ông được cấp giấy đất lần đầu, khi cấp giấy thì không có Cơ quan chuyên môn nào đo đạc. Đến năm 2005, ông có bán cho 03 anh em của ông P 01 phần đất và ông P mua phần đất diện tích ngang 4m, dài 36m, với giá là 7.500.000 đồng/mét ngang. Sau đó, ông đã làm thủ tục sang tên cho ông P đứng tên và giao phần đất này cho ông P sử dụng nhưng ông P chưa giao đủ tiền cho ông, còn nợ lại khoảng hơn
3.000.000 đồng (Lâu quá không nhớ rõ). Đến năm 2006 - 2007 thì ông có khởi kiện ông P, ông M và ông Á về việc trả thiếu tiền mua đất ra Tòa án huyện Tháp Mười giải quyết và Tòa án đã xét xử xong. Khi hai bên mua bán vào năm 2005 thì hai bên đã xuống trụ đá 02 đầu và hiện này 02 trụ đá này vẫn còn. Đối với lần làm thủ tục sang tên cho ông P thì chỉ có địa chính thị trấn xuống đo bằng thước dây. Sau đó, ông được cấp giấy đất mới và từ đó cho đến nay ông chưa đổi giấy thêm lần nào. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ông đang giữ ở nhà, không có thế chấp cho cá nhân hoặc tổ chức nào. Trước đây, ông có vay tiền của Ngân hàng nhưng hiện nay ông đã trả xong và giữ giấy đất ở nhà. Đối với giấy chứng quyền sử dụng đất của ông cấp cho hộ và hộ của ông gồm: Ông, bà N2, các con đã tách hộ khẩu ra ở riêng hết, ngoài ra không còn ai khác. Đối với phần đất này là tài sản chung của vợ chồng ông, các con của ông không có công sức đóng góp gì vào phần đất này. Hiện trạng phần đất đang tranh chấp ranh không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định.
Nay, ông không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của ông P, vì ông không có lấn đất gì của ông P. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh ông đã xác định trong Sơ đồ đo đạc của Tòa án. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị Á trình bày:
Bà là vợ của ông P, đối với vụ án này bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông P. Đối với phần đất này là tài sản chung của vợ chồng bà, các con của bà không có công sức đóng góp gì vào phần đất này. Hiện trạng phần đất đang tranh chấp ranh không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Bà thống nhất giao cho ông P toàn quyền quyết định, bản thân của bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Đối với anh N, anh N1 và bà N2 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.
* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 100, Điều 166 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ranh giới giữa thửa 2371 của ông B và thửa 2372 của ông P là từ điểm M4 - M7 - tâm cây dừa thứ nhất - tâm cây dừa thứ hai - M8'. Ông P được sử dụng 12,7m², ông B được sử dụng 11,8m².
- + Buộc ông B có trách nhiệm di dời 02 cây Dừa, 01 cây Mít Thái.
- + Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ các bên phải chịu theo tỷ lệ trên phần không được chấp nhận.
- + Về án phí ông P và ông B đều là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Về nguồn gốc đất và các tài liệu, chứng cứ trong vụ án.
* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Xác định ranh giới quyền sử dụng đất các thửa đất của hai bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B trả lại cho ông P phần đất đã lấn chiếm diện tích 24,5m² theo như Sơ đồ đo đạc của Tòa án, đất thuộc 01 phần thửa 2372, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng:
- Theo quyết định tạm ngưng phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Lê Văn V, bà Hồ Thị T và Thư ký phiên tòa ông Trần Văn J. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm do bà T và ông J bận đi công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được thay thế bằng ông Nguyễn Văn Á là Hội thẩm nhân dân dự khuyết và ông Hứa Quang T1 là Thư ký phiên tòa dự khuyết. Các đương sự có mặt
thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Đối với anh N, anh N1 và bà N2 vắng mặt nhiều lần không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều thống nhất trình bày đối với phần đất của ông P đang tranh chấp ranh giới với B có nguồn gốc là do ông P nhận chuyển nhượng từ ông B, còn phần đất của ông B đang tranh chấp ranh giới với ông P có nguồn gốc là do ông B nhận chuyển nhượng từ ông S và bà K. Đồng thời, vào năm 2006 thì ông B có khởi kiện ông P tranh chấp về số tiền chuyển nhượng còn lại đối với phần đất này và từ đó cho đất đến nay thì ông P, ông B sử dụng liên tục ổn định từ đó cho đến nay và không có phát sinh gì về ranh giới cho đến khi ông P khởi kiện. Ngoài ra, trên đường ranh đang tranh chấp có 02 cây Dừa và 01 cây Mít do ông B trồng và hiện đang quản lý, sử dụng. Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự vì được các bên đương sự thống nhất thừa nhận.
- Về diện tích đất: Đối với phần đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự có diện tích tới mốc M7 tổng cộng là 24,5m², trong phạm vi các mốc M7, M8 (Đường ranh do nguyên đơn xác định) và mốc M7, M9 (Đường ranh do bị đơn xác định) theo sơ đồ đo đạc và phụ lục kèm theo của Công ty TNHH D2. Đối với phần đất đang tranh chấp của nguyên đơn là thửa số 2372, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 120m², diện tích đo đạc thực tế do nguyên đơn xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp trên) tới mép kênh 200 là 134,6m². Như vậy, so với diện tích được cấp thì phần đất của ông P dư 14,6m². Đối với phần đất đang tranh chấp của bị đơn là thửa số 2371, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.435m², diện tích đo đạc thực tế do bị đơn xác định tới mép kênh 200 là 1.881,5m². Như vậy, so với diện tích được cấp thì phần đất của ông B dư 446,5m². Đồng thời, theo “Công văn số 349/CNTM-ĐKCG ngày 17/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P và ông B thuộc các thửa đất trên thì không có đo đạc, khảo sát thực tế.
- Về hiện trạng: Trên đường ranh đang tranh chấp thì các đương sự thống nhất trình bày có 02 cây Dừa và 01 cây Mít do ông B trồng, ngoài ra không còn cây gì khác.
- Xét thấy, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất trên thì không có đo đạc, khảo sát thực tế. Đồng thời, thửa đất của ông P với các thửa đất
liền kề của ông Á và ông M1 thì từ trước đến nay không có xác định ranh gì và thửa đất của ông B với các thửa đất còn lại của ông B thì từ trước đến nay không có xác định ranh gì. Do 02 thửa đất đang tranh chấp không xác định được ranh chính xác với các thửa đất còn lại của ông P và ông B nên không thể căn cứ vào các số liệu của các tài liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên để làm căn cứ giải quyết. Do đó, chỉ có thể căn cứ vào quá trình sử dụng và hiện trạng có trên đường ranh đang tranh chấp để làm căn cứ giải quyết. Về hiện trạng đường ranh đang tranh chấp không có kiến trúc gì, chỉ có các cây trồng như trình bày phần trên. Xét trên đường ranh đang tranh chấp có 02 cây Dừa và 01 cây Mít do ông B trồng, khi ông B trồng và sử dụng các cây này thì ông P không có ngăn cản hoặc tranh chấp gì, chứng tỏ ông P thừa nhận phần đất của ông B tới vị trí các cây này. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí các cây trên. Đồng thời, từ mốc M4, M7 tạo thành đường thẳng đi qua các cây trên đến cuối đường ranh đang tranh chấp (Đoạn thẳng M8-M9) tạo thành điểm mới M8᾿ (Đoạn thẳng từ mốc M8 đến M8᾿ có chiều dài là 0,53m và đoạn thẳng từ mốc M8᾿ đến M9 có chiều dài là 0,89m). Nay, Hội đồng xét xử xác định đường ranh giữa 02 thửa đất này là đoạn thẳng nối từ mốc M4 kéo đến mốc M7, M8᾿.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông P là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần nhận. Như vậy, phần yêu cầu của ông P được chấp nhận có diện tích là 12,7m² và phần không được chấp nhận là 11,8m². Ngoài ra, các tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
[5] Đối với phần đất thuộc thửa 2377 của ông B thì chưa thống nhất ranh với người giáp ranh là ông Trương Công D1. Xét thấy, đối với việc này thì Tòa án đã thông báo cho ông B và ông D1 biết nhưng đến nay Tòa án chưa nhận được đơn khởi kiện nào của những người này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng 01 vụ án khác.
[6] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[7] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
[8] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông P được chấp nhận 01 phần nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ông P phải chịu phần yêu cầu khởi kiện của mình không được chấp nhận, còn ông B phải chịu phần yêu cầu của ông P được chấp nhận, cụ thể: Ông P yêu cầu ông B trả diện tích 24,5m² nhưng chỉ được
chấp nhận 01 phần với diện tích là 12,7m², nếu tính phần yêu cầu khởi kiện của ông P là 10 phần thì ông P được chấp nhận tương đương 5,4 phần, còn 4,6 phần không được chấp nhận và tổng chi phí trên là 8.300.000 đồng. Như vậy, ông P phải chịu số tiền là 3.818.000 đồng và ông B phải chịu số tiền là 4.482.000 đồng. Đồng thời, do ông P đã tạm ứng trước và đã chi xong nên ông B phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền 4.482.000 đồng để trả lại cho ông P.
[9] Về án phí: Ông P và ông B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông P sinh năm 1963 và ông B sinh năm 1961 tính đến nay đều đã trên 60 tuổi và có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí. Do đó, ông P và ông B thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[10] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- - Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét và tiếp tục tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.
- - Về đề nghị nội dung giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 203 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P.
- - Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh P tại thửa số 2372 với đất của ông Trần Văn B tại thửa số 2371 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M4, M7 và M8', đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật
- - Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/3/2023 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 17/11/2023 và phụ lục kèm theo ngày 10/7/2024 của Công ty TNHH D2).
- Về chi phí tố tụng:
- - Ông P phải chịu 3.818.000 đồng (Ba triệu, tám trăm mười tám nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và ông P đã nộp xong.
- - Ông B phải chịu 4.482.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Ông B phải nộp lại số tiền này để trả lại cho ông P.
- Về án phí: Ông P và ông B được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 108/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 108/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
