Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 17-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lục Kim Thanh;
  2. Bà Phạm Minh Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 9 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Phù Văn C, sinh năm 1998, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nơi tạm trú: Phòng số 07, nhà trọ M, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; con ông Phù Văn N, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1972; bị cáo có 02 anh/chị em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 19/11/2015, bị cáo bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị can chưa đóng phạt.
  • - Ngày 07/6/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 21/3/2016 (bị cáo chưa thành niên), án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
  • - Ngày 30/8/2016, bị cáo bị Tòa án bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 22/9/2015 (bị can chưa thành niên), án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, tịch thu 800.000 đồng sung quỹ Nhà nước, bồi thường cho Nguyễn Ngọc D 850.000 đồng.
  • - Ngày 04/11/2016, bị cáo bị Tòa án nhân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm, giữ nguyên án sơ thẩm, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chịu hình phạt chung là 03 năm 9 tháng tù. Ngày 25/10/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 03/11/2016, ngày 21/12/2016, bị cáo chấp hành xong các khoản án phí, tịch thu sung quỹ và bồi thường cho Nguyễn Ngọc D.
  • - Ngày 17/10/2023, bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phù Văn C nghiện ma túy đá (ma túy loại Methaphetamine), tạm trú tại phòng trọ số 07, nhà trọ M thuộc khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương cùng với bạn gái Nguyễn Thị Ngọc T (sinh năm 1995, Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp).

Khoảng 14 giờ ngày 15/10/2023, Phù Văn C đi xe dịch vụ Grab đến khu công nghiệp V, thuộc huyện C, thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua được 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có 03 (ba) gói ma tuý đá với giá 300.000 đồng, sau đó cất túi nylon chứa ma túy vào túi áo sơ mi mà C đang mặc rồi quay về phòng trọ số 07, nhà trọ M Trên đường về, C ghé vào cửa hàng bán dụng cụ y khoa mua 01 ống thủy tinh đem về nhằm mục đích chế tạo nỏ thủy tinh sử dụng ma túy. Sau khi về đến phòng trọ, C treo chiếc áo sơ mi có cất giấu ma túy vào phía sau cánh cửa ra vào phòng trọ.

Khoảng 10 giờ ngày 16/10/2023, C thấy Nguyễn Thị Ngọc T đi chợ mua đồ ăn thì lấy đầu khò đốt nóng ống thủy tinh đã mua được trước đó, chế tạo thành nỏ thủy tinh để tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Khi C vừa chế tạo bộ dụng cụ xong thì thấy T đi chợ về nên C cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào túi áo treo sau cánh cửa ra vào phòng trọ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi C và T đang ở trong phòng số 7 thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với Công an phường T đến kiểm tra hành chính, phát hiện ma túy nên bắt giữ C cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 túi ny lon miệng kéo dính bên trong chứa 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong túi áo bên trái phía trước của áo sơ mi màu đen treo trên cánh cửa sau cửa ra vào phòng số 7; 01 đầu khò bình gas và 01 bình gas mini đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Phù Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của C phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập có được trong vụ án.

Theo Bản Kết luận giám định số 576 ngày 23/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bị thu giữ (gửi giám định) là ma túy có trọng lượng/khối lượng là 0,1015 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong có trọng lượng/khối lượng là 0,0625 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBC ngày 8/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phù Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phù Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật sau giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có trọng lượng/khối lượng là 0,0625 gam chứa trong 01 bì thư được niêm phong ghi số 576/PC09 có chữ ký của Phù Văn C (Người chứng kiến); Nguyễn Thành T (cán bộ nhận mẫu); Nguyễn Hoàng A (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương);

Tịch thu tiêu hủy 01 đầu khò bình gas, 01 bình gas mini đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Bị cáo Phù Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBC ngày 8/4/2024.

Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản Cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 16/10/2023, tại phòng trọ số 07, nhà trọ M thuộc khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện Phù Văn C có hành vi tàng trữ 0,1015 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng (Theo Bản Kết luận giám định số 576 ngày 23/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội và làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc, làm giảm sút sức lao động trong xã hội, tăng chi phí xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma túy gây nên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lối sống buông thả, thích hưởng thụ, tò mò hít thử để xem cảm giác lạ, dễ bị kích động lôi kéo vào con đường sử dụng các chất ma tuý nên bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Ngày 19/11/2015, bị cáo bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị can chưa đóng phạt.

Ngày 07/6/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 21/3/20216 (bị can chưa thành niên), án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Ngày 30/8/2016, bị cáo bị Tòa án bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 22/9/2015 (bị can chưa thành niên), án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, tịch thu 800.000 đồng sung quỹ Nhà nước, bồi thường cho Nguyễn Ngọc D 850.000 đồng.

Ngày 04/11/2016, bị cáo bị Tòa án nhân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm, giữ nguyên án sơ thẩm, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chịu hình phạt chung là 03 năm 9 tháng tù. Ngày 25/10/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 03/11/2016, ngày 21/12/2016, bị cáo chấp hành xong các khoản án phí, tịch thu sung quỹ và bồi thường cho Nguyễn Ngọc D.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật kém. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật sau giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có trọng lượng/khối lượng là 0,0625 gam chứa trong 01 bì thư được niêm phong ghi số 576/PC09 có chữ ký của Phù Văn C (Người chứng kiến); Nguyễn Thành T (cán bộ nhận mẫu); Nguyễn Hoàng A (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đầu khò bình gas, 01 bình gas mini đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là công cụ để bị cáo sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 46, Điều 47, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phù Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phù Văn C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/10/2023.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật sau giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có trọng lượng/khối lượng là 0,0625 gam chứa trong 01 bì thư được niêm phong ghi số 576/PC09 có chữ ký của Phù Văn C (Người chứng kiến); Nguyễn Thành T (cán bộ nhận mẫu); Nguyễn Hoàng A (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương);

Tịch thu tiêu hủy 01 đầu khò bình gas, 01 bình gas mini đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân thị xã Bến Cát)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phù Văn C phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thị xã Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
  • - Công an thị xã Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Phú C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger