Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/DS-ST

Ngày: 16/8/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Diệu

Ông Đỗ Thanh Tuyến

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 264/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A).

Trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T - Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Lê Minh K – Phó Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện G, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ: ấp E, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1962.

Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, anh K, ông Đ, anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2024, nguyên đơn là Ngân hàng N và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh là Lê Minh K trình bày:

Ngày 06/4/2022, Ngân hàng N, Chi nhánh huyện G (Sau đây gọi là “Bên cho vay” hoặc “Ngân hàng” hoặc “Nguyên đơn”) và ông Huỳnh Văn Đ (Sau đây gọi là “ông Đ” hoặc “Bên vay”) ký Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202202536 để cho ông Đ vay số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng; Thời hạn vay: 60 (sáu mươi) tháng; Mục đích vay: Sửa nhà theo đơn xin phép; Lãi suất vay: 9.2%/năm, lãi suất thả nổi; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Kỳ hạn trả lãi: 01 tháng/lần. Trả nợ gốc: chia thành 5 kỳ:

Kỳ 1: Ngày 05/4/2023: trả 35.000.000 đồng.

Kỳ 2: Ngày 05/4/2024: trả 35.000.000 đồng.

Kỳ 3: Ngày 05/4/2025: trả 40.000.000 đồng.

Kỳ 4: Ngày 05/4/2026: trả 40.000.000 đồng.

Kỳ 5: Ngày 05/4/2027: trả 50.000.000 đồng.

Bên cho vay đã giải ngân đúng theo nội dung Hợp đồng cho vay nêu trên, ông Đ đã nhận đủ số tiền: 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng vào ngày 06/4/2022.

Biện pháp bảo đảm tiền vay: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nhưng ông Đ có gửi cho Bên cho vay 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 241, 242 tờ bản đồ 11 diện tích 2.007,1m² toạ lạc xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp cho hộ ông Huỳnh Văn Đ ngày 30/6/2004.

Anh Huỳnh Văn C (con ruột và cùng hộ khẩu ông Đ) đã uỷ quyền cho ông Đ theo Hợp đồng uỷ quyền số 2022.07.08.083 ngày 06/4/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ đã thanh toán cho Bên cho vay 01 kỳ trả nợ gốc với số tiền 35.000.000 đồng. Đến kỳ trả nợ gốc thứ 2 (ngày 05/4/2024), ông Đ không trả nợ cho Bên cho vay và tiền lãi phát sinh. Bên cho vay phối hợp với UBND xã B liên lạc ông Đ yêu cầu trả nợ. Ông Đ biết rõ số tiền vay của mình đã quá hạn, biết rõ UBND xã B mời lên làm việc về việc trả nợ nhưng ông Đ cố tình không hợp tác, không có thiện chí trả nợ. Do đó, Bên cho vay khởi kiện yêu cầu ông Đ và anh C liên đới trả số tiền tính đến ngày 14/5/2024 là 165.594.822 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi hai) đồng, trong đó: tiền gốc là 165.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 390.575 đồng, tiền lãi quá hạn là 204.247 đồng. Đồng thời, yêu cầu ông Đ, anh C phải trả tiền lãi vay phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 15/5/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Ngày 15/7/2024, ông Đ có trả cho Ngân hàng 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền gốc.

Nay, Bên cho vay yêu cầu ông Đ và anh C liên đới trả số tiền tính đến hết ngày 16/8/2024 (ngày Toà án xét xử sơ thẩm) là 150.414.713 đồng, trong đó tiền gốc là 145.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.839.288 đồng, tiền lãi quá hạn 575.425 đồng. Đồng thời, yêu cầu ông Đ, anh C phải trả tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 17/8/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Trường hợp ông Đ, anh C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên đấu giá các tài sản của hộ ông Huỳnh Văn Đ để thanh toán hết nợ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Đ, anh C đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Đ, anh C; ông Đ, anh C cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối, không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bên cho vay khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ, anh C trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202202536 ngày 06/4/2022. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Ông Đ, anh C là bị đơn trong vụ án cư trú tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Anh K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ông Đ, anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh K, ông Đ, anh C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Chứng cứ Bên cho vay khởi kiện là Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202202536 ngày 06/4/2022. Theo đó, Bên cho vay cho ông Đ vay 200.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 60 (sáu mươi) tháng. Trả nợ gốc: chia thành 5 kỳ:

Kỳ 1: Ngày 05/4/2023: trả 35.000.000 đồng.

Kỳ 2: Ngày 05/4/2024: trả 35.000.000 đồng.

Kỳ 3: Ngày 05/4/2025: trả 40.000.000 đồng.

Kỳ 4: Ngày 05/4/2026: trả 40.000.000 đồng.

Kỳ 5: Ngày 05/4/2027: trả 50.000.000 đồng.

Ông Đ đã trả được 01 kỳ với số tiền gốc là 35.000.000 đồng. Đến kỳ 2 (ngày 05/4/2024), ông Đ không trả tiền gốc đến hạn và tiền lãi phát sinh. Đến ngày 15/7/2024 (sau ngày Toà án thụ lý vụ án), ông Đ trả được 20.000.000 đồng tiền gốc. Xét thấy, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà ông đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết nên việc Bên cho vay khởi kiện ông Đ để thu hồi nợ trước hạn là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về trách nhiệm liên đới của anh C:

Tại Điều 1 của Hợp đồng uỷ quyền ngày 06/4/2022 lập giữa Bên uỷ quyền (Bên A - anh Huỳnh Văn C) và Bên được uỷ quyền (Bên B - ông Huỳnh Văn Đ) có nội dung: “Bên B được toàn quyền thay mặt và nhân danh Bên A xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại Ngân hàng N, bao gồm không giới hạn như: thương thảo và ký kết hợp đồng tín dụng, nhận tiền vay, thực hiện các công việc liên quan đến xử lý nợ”.

Tại Điều 7 của Hợp đồng uỷ quyền nêu trên có nội dung: “Bên A cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm chung theo quy định pháp luật về các nội dung do bên B thực hiện trong phạm vi uỷ quyền về các nội dung do bên B thực hiện trong phạm vi uỷ quyền”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh C ký Hợp đồng uỷ quyền trên cơ sở tự nguyện, nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Do ông Đ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên việc Bên cho vay yêu cầu anh C có nghĩa vụ liên đới cùng với ông Đ trả nợ là phù hợp quy định.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Ông Đ, anh C đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của Bên cho vay, coi như ông Đ, anh C mặc nhiên thừa nhận và đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bên cho vay.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Bên cho vay khởi kiện thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu Toà án buộc ông Đ, anh C liên đới thanh toán số tiền 150.414.713 đồng, trong đó tiền gốc là: 145.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.839.288 đồng, tiền lãi quá hạn 575.425 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/8/2024 cho đến khi trả xong nợ là phù hợp quy định tại 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Đ, anh C phải liên đới chịu toàn bộ án phí là 7.520.000 đồng (150.414.713 đồng x 5% = 7.520.000) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Huỳnh Văn Đ, anh Huỳnh Văn C liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền 150.414.713 (Một trăm năm mươi triệu bốn trăm mười bốn nghìn bảy trăm mười ba) đồng, trong đó tiền gốc là: 145.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.839.288 đồng, tiền lãi quá hạn 575.425 đồng.

Kể từ ngày 17/8/2024, ông Đ và anh C còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận Hợp đồng tín dụng số 7107LAV202202536 ngày 06/4/2022.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Huỳnh Văn Đ, anh Huỳnh Văn C phải liên đới nộp án phí số tiền là 7.520.000 (Bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng.

Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.139.000 (Bốn triệu một trăm ba mươi chín nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005174 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Văn Cảnh

Phạm Thị Thu Trang

Phạm Ngọc Ánh

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 108/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH NN và Đ tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger