|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15/8/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Hiến
Bà Vũ Thị Mai
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.
Ngày 15/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lâm Thị N, sinh năm 1990 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Anh Lý Văn T, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị chị Lâm Thị N trình bày:
Chị và anh Lý Văn T kết hôn với nhau vào ngày 19/3/2008, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh, anh chị chung sống tại thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến năm 2014, thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, đánh nhau, hiện tại không còn tình cảm với nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2014 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lý Văn T.
Về con chung: Chị và anh Lý Văn T có 03 con chung là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013. Hiện tại các con chung đang ở cùng anh T. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng để anh T nuôi dưỡng cả 03 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi và anh T tự thoả thuận, tôi không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Chị và anh Lý Văn T không có nợ chung nên tôi không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/6/2024, anh Lý Văn T trình bày:
Anh và chị Lâm Thị N kết hôn với nhau vào ngày 19/3/2008, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị N về làm dâu ngay nhà anh T, anh chị chung sống tại thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, đánh nhau, hiện tại không còn tình cảm với nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2014 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lý Văn T.
Về con chung: Chị và anh Lý Văn T có 03 con chung là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013. Hiện tại các con chung đang ở cùng anh T. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng để anh T nuôi dưỡng cả 03 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi và anh T tự thoả thuận, tôi không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Chị và anh Lý Văn T không có nợ chung nên tôi không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Lý Trọng K trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố là Lý Văn T.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Lý Thị Tuyết M trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố là Lý Văn T.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Lý Thị Ngọc T1 trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố là Lý Văn T.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị N: Cho chị Lâm Thị N được ly hôn hôn với anh Lý Văn T.
Về con chung: Giao cho chị Lâm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem vì đương sự không yêu cầu
Về án phí: Chị Lâm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Lâm Thị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006082 ngày 26 tháng 3 năm 2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lâm Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh Lý Văn T, anh Lý văn T2 có địa chỉ tại thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T theo quy định tại điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19/3/2008 phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của chị Lâm Thị N vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, đánh nhau. Anh Lý Văn T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, chị N có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nay chị Lâm Thị N khởi kiện ly hôn anh T hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Lâm Thị N. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian sống chung vợ chồng chị N, anh T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho chị Lâm Thị N được ly hôn với anh Lý Văn T.
[4] Về con chung: Chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T có 03 con chung là Lâm Thế A, sinh ngày 30/4/2017. Hiện nay, chị Trần Thị N1 và anh Lâm Văn D đều thống nhất giao con chung là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013 cho anh Lý Văn T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy chị N và anh T đều thống nhất việc nuôi con chung hơn nữa hiện cháu T1, M, K đều đã đủ 07 tuổi và có nguyện vọng ở với bố là Lý Văn T nên cần giao con chung là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013 cho anh Lý Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại 81 Luật hôn nhân và gia đình .
Chị Lâm Thị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị Lâm Thị N thực hiện quyền này.
Chị Lâm Thị N có quyền làm đơn thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do chị Lâm Thị N và anh Lý Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí : Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị Lâm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Lâm Thị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006082 ngày 26 tháng 3 năm 2024.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị N: Cho chị Lâm Thị N được ly hôn hôn với anh Lý Văn T.
- Về con chung: Giao cho anh Lý Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là Lý Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/5/2009; Lý Thị Tuyết M, sinh ngày 25/02/2011 và Lý Trọng K, sinh ngày 25/02/2013 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem vì đương sự không yêu cầu
Sau khi ly hôn, chị Lâm Thị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị Lâm Thị N thực hiện quyền này.
Chị Lâm Thị N có quyền làm đơn thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Lâm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Lâm Thị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006082 ngày 26 tháng 3 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thu Hà |
Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N và T Ly hôn con chung
