Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 15-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Sơn

Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Hữu N, sinh ngày 03 tháng 09 năm 1996 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký HKTT: Tổ 8, khu phố Bến Đình, phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh N và bà Võ Ngọc Thuý E; Tiền sự: Không; Tiền án: Không:

Bị can bị bắt tạm giữ ngày 20-02-2024, chuyển tạm giam ngày 29-02-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

Người chứng kiến: ông Mạc Tiến T, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Hữu N là người nghiện ma túy tổng hợp nên vào tối ngày 19/02/2024, N gọi điện cho một người đàn ông tên Phong (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua trái phép của P 01 gói ma túy dạng đá với giá 300.000 đồng để nhằm mục đích sử dụng dần thì được Phong đồng ý bán và hẹn địa điểm mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực chùa P thuộc phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N đến điểm hẹn mua trái phép được của Phong 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N đến bãi đất trống tại khu phố M phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu lấy ra 01 ít sử dụng, số ma túy túy còn lại N cất giấu trên người nhằm mục đích để sử dụng sau. Đến khoảng 13 giờ 40 phút ngày 20/02/2024 khi N vừa mang gói ma túy đến bãi đất trống nêu trên thì bị công an phường Mỹ Xuân phối hợp với Công an thị xã Phú Mỹ kiểm tra hành chính bắt quả tang N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh – tím.

Tại bản kết luận giám định số 176/KL ngày 27/02/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Mẫu A có khối lượng 0,1937 gam, là ma tuý loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Bản cáo trạng số 100/CT-VKSPM ngày 13-6-2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Trương Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:

Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi, đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị:

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trương Hữu N từ 12 tháng đến 18 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 176 ngày 27-02-2024, của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gửi trả sau giám định, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Vivo màu xanh tím.

Lời khai của bị cáo:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng. Bị cáo không có ý bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

Vụ án không thuộc trường hợp đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng

Tại phiên tòa, bị cáo tại tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các đương sự khác, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định được:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 20/02/2024 tại bãi đất trống thuộc khu phố M phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bị cáo Trương Hữu N đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1937 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường Mỹ Xuân phối hợp với Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt quả tang cùng tang vật.

Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi các bị cáo Trương Hữu N thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy, cáo trạng số 100/CT-VKS-PM ngày 13-6-2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Hữu N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Trương Hữu N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt.

Bị cáo là công dân đã trưởng thành, hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người và quy định của pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép đối với chất ma tuý. Tuy nhiên để phục vụ nhu cầu bản thân, bị cáo đã bất chấp đến các quy định của pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, tương ứng với đặc điểm nhân thân, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối 01 phong bì niêm phong số 176 ngày 27-02-2024, của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gửi trả sau giám định (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại hiêu Vivo màu xanh tím bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Trương Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trương Hữu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-02-2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại hiêu Vivo màu xanh tím, không tìm thấy số Imel, màn hình bị nứt vỡ, nắp lưng bị bung hở, máy đã cũ, hư hỏng, không hoạt động.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 176 ngày 27-02-2024, của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu niêm phong và đóng dấu.

    Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 106/BB-CCTHADS ngày 17-6-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.

  3. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: bị cáo Trương Hữu N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - CCTHADS thị xã Phú Mỹ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV06 Công an tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Huỳnh Thanh Trà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger