Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 15/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khuất Thị Minh Hiền;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Thị T, sinh năm 1986; tại tỉnh Cao Bằng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1, con bà Hoàng Thị D; chồng Đào Văn K; bị cáo có 02 người con sinh năm 2008 và sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.

2. Đào Văn K, sinh năm: 1983; tại: Thái Nguyên; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn L (đã chết), con bà Nguyễn Thị N; vợ: Hoàng Thị T; bị cáo có 02 người con sinh năm 2008 và sinh năm 2010.

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2021/HS-ST ngày 04/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 12/7/2022 nhưng chưa nộp án phí;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 09/9/2018, bị Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 91/QĐ-XPVPHC với số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L “có mặt”.

Bị hại: Anh Phạm Hoài P, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

Người làm chứng:

  • - Ông Phạm Hùng C, sinh năm 1960; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.
  • - Anh Trần Quang V, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 12/2023, anh Phạm Hoài P, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thuê Hoàng Thị T đến làm thuê cho gia đình anh P. Trong quá trình làm việc tại nhà anh P thì T phát hiện có 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, màu trắng, nhãn hiệu Galaxy, số loại 3.0 H của gia đình anh P đặt tại máng nước trong chuồng bò. Đến tối ngày 04/01/2024, khi đang ngồi xem tivi tại nhà thì T nói với chồng là Đào Văn K là “Bên chuồng bò nhà ông P có một cái máy bơm nước, bây giờ hoàn cảnh gia đình mình khó khăn, hay là tụi mình lấy trộm bán để có tiền nuôi con” thì K đồng ý. Sau đó TK bàn bạc đến sáng ngày hôm sau khi T đi làm cho nhà anh P thì sẽ lấy trộm máy bơm nước đưa qua hàng rào lưới B40 cho K để K chở đi bán. Đến khoảng 07 giờ 30 ngày 05/01/2024, T đến xạc cỏ tại vườn sầu riêng gần chuồng bò của nhà anh P. Lúc này, K gọi điện thoại cho T và nói “Lấy cái máy bơm nước rồi đem ra ngoài hàng rào đi” thì T đi đến khu vực chuồng bò lấy máy bơm nước vác lên vai mang ngoài hàng rào. Khi đi được khoảng 200m đến khu vực hàng rào lưới B40 giáp đường thì T đứng đợi khoảng 15 phút thì thấy K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không rõ biển số đi đến. Lúc này T đưa máy bơm nước qua hàng rào cho K, K lấy được máy bơm nước thì bỏ lên xe mô tô chở đi, còn T đi vào vườn tiếp tục làm việc. Trong lúc TK trộm cắp tài sản thì anh Trần Quang V, sinh năm 1997, là hàng xóm của anh P nhìn thấy nên đã gọi điện thoại nói cho anh P biết. Sau đó anh P cùng anh V đến hỏi T thì T thừa nhận đã cùng K lấy trộm máy bơm nước nên anh P yêu cầu T gọi điện thoại cho K mang máy bơm nước trả lại nên K đã chở máy bơm nước đến nhà bố của anh P là ông Phạm Hùng C để lại bên hiên nhà rồi bỏ đi, còn anh P đến trình báo Công an. Tại cơ quan Công an Hoàng Thị TĐào Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Galaxy, màu trắng loại 3.0 H, chiều dài 1,25m, đường kính 10cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 25/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình huyện L kết luận: 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Galaxy, màu trắng loại 3.0 H, chiều dài 1,25m, đường kính 10cm có giá trị là 4.500.000 đồng.

Ngày 12/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Galaxy, màu trắng loại 3.0 H, chiều dài 1,25m, đường kính 10cm cho anh Phạm Hoài P.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Hoài P không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra các bị can Hoàng Thị T khần khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị can Hoàng Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được áp dụng tình tiệt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị can Đào Văn K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave và 01 điện thoại di động Nokia loại trắng đen mà bị can Đào Văn K sử dụng trong quá trình trộm cắp tài sản thì hiện nay chiếc điện thoại bị hỏng nên bị can đã vứt đi, còn xe mô tô thì không xác minh thu giữ được nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị T, Đào Văn K ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về bản Cáo trạng và khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đào Văn K từ 15 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Hoài P không có yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu xung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Thị T.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị hại anh Phạm Hoài P và người làm chứng là ông Phạm Hùng C, anh Trần Quang V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Bị cáo Hoàng Thị T và bị cáo Đào Văn K là vợ chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên vào cuối năm 2023, bị cáo T có đi làm thuê cho gia đình anh Phạm Hoài Pthôn T, xã T, huyện L. Trong quá trình làm thuê thì bị cáo T phát hiện có 01 chiếc máy bơm nước của gia đình anh P đặt trong chuồng bò. Đến tối ngày 04/01/2024, khi đang ngồi xem tivi tại nhà thì T nói với chồng là Đào Văn K “Bên chuồng bò nhà ông P có một cái máy bơm nước, bây giờ hoàn cảnh gia đình mình khó khăn, hay là tụi mình lấy trộm bán để có tiền nuôi con” thì K đồng ý. Đến khoảng 07 giờ 30 ngày 05/01/2024, T đến xạc cỏ tại vườn sầu riêng gần chuồng bò của nhà anh P thì K điện thoại cho bị cáo T, bị cáo T đã lấy chiếc máy bơm đưa ra ngoài hàng rào để cho K chở đi thì bị người dân phát hiện. Sau khi bị phát hiện thì bị cáo K đã chở chiếc máy bơm đến nhà bố của anh P là ông Phạm Hùng C để trả lại. Đồng thời, các bị cáo đã bị cơ quan Công an mời làm việc thì các bị cáo đã khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội.

[3.1] Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 25/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình huyện L kết luận: 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Galaxy, màu trắng loại 3.0 H, chiều dài 1,25m, đường kính 10cm có giá trị là 4.500.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay thắc mắc gì và đồng ý với bản kết luận định giá.

[3.2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hoàng Thị T, Đào Văn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, truy tố là có căn cứ.

[3.3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân mà các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cách giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân và làm mất an

ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do các bị cáo đã gây ra.

[3.3] Xét vai trò, tính chất, mức độ của các bị cáo thì thấy rằng: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn và đều trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là người khởi xướng rủ bị cáo K trộm cắp và là người trực tiếp lấy trộm máy bơm đem ra ngoài hàng rào cho bị cáo K chở đi thì bị phát hiện. Xét thấy, vai trò của bị cáo T tích cực hơn bị cáo K. Tuy nhiên, bị cáo K là người có nhân thân xấu và phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên cần xử phạt bị cáo K mức hình phạt cao hơn bị cáo T là phù hợp.

[3.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.6] Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T là người chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản các bị cáo chiếm đoạt giá trị không lớn và được thu hồi trả lại cho bị hại. Hơn nữa, trong vụ án này các bị cáo là vợ chồng, để tạo điều kiện cho việc nuôi con nên không cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Còn đối với bị cáo K là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy, đã 02 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà các bị đã chiếm đoại của anh Phạm Hoài P là 01 máy bơm nước loại hỏa tiễn, nhãn hiệu Galaxy, màu trắng loại 3.0 H, chiều dài 1,25m, đường kính 10cm đã được bị cáo K trả lại cho anh P. Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt, trong hồ sơ vụ án thể hiện anh P không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án được thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc điện thoại này bị cáo T đã dùng để liên lạc vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thị T, Đào Văn K phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

(Đã giải thích chế độ chấp hành án treo cho bị cáo).

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn K 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen đã qua sử dụng. (có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/6/2024).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Hoàng Thị T, Đào Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/7/2024) các bị cáo có quyền kháng cáo; riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THA huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hiền

Đinh Văn Cương

Trần Minh Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Thơm cùng đồng phạm - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger