Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HSST

Ngày 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tất Phồn
  2. Bà Dương Thị Sóng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/HSST, ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024, đối với các bị cáo:

  1. Triệu Văn T, sinh năm 1993.
  2. Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Triệu Văn T1, sinh năm 1971 và bà Ma Thị D, sinh năm 1971; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lý Thị L, sinh năm 1996; Con: 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2024;

    Tiền án, tiền sự: Chưa có;

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

  3. Vi Văn Đ, sinh năm 1997

Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vi Văn N, sinh năm 1970 và bà Lường Thị H, sinh năm 1973; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968 địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Kim Đ1, sinh năm 1987 ở thôn N, L, L, Vĩnh Phúc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 29/11/2023, T điều khiển xe ô tô tải BKS: 99C - 075.99 đến xưởng của bà H1, xuống nhà kho trả hàng bảo hành (máy rửa xe), khoảng 05 phút thì xuống hàng xong. Trượng quan sát thấy trong kho chứa hàng có năm thùng hàng đựng máy xịt rửa xe loại HATTO - HT PW 3000 (Bên trong mỗi thùng có 02 máy) không có ai trông coi và khuất C nên T nảy sinh ý định trộm cắp 05 thùng hàng này. T điều khiển xe ô tô đi gần đến vị trí để các thùng hàng, đỗ xe lại rồi xuống bê các thùng hàng lên xe ô tô. Khi T chuẩn bị bê thùng thứ tư lên thùng xe, lúc này khoảng 7 giờ 40 phút cùng ngày, Đ đi đến nhà kho để đánh xe ô tô tải BKS: 29D - 060.06 đi lên sân để trả hàng bảo hành (máy rửa xe), T hỏi Được “có biết chỗ nào bán máy rửa xe này không, nếu bán được thì sẽ chia nhau tiền” Được hiểu ý của T rủ mình trộm cắp máy rửa xe cùng và trả lời “có, cứ để ra bãi rác khu vực vòng xuyến ở D, T, Tý...” Sau đó, Đ và T tiếp tục bê hai thùng hàng máy rửa xe nên thùng xe ô tô. Lúc này, Được quan sát thấy trên thùng xe có một số thùng hàng máy rửa xe, Được hỏi “có bao nhiêu thùng hàng” thì T bảo “có tổng năm thùng”. Sau đó, T điều khiển xe ô tô chở năm thùng hàng vừa cùng Được trộm cắp ra ngoài bãi rác ở gần Bảo Tàng T cất giấu. Khi lên đến sân nhà xưởng T gặp chị Phạm Thị N1, SN 1994 ở Đ, H, T (Kế toán), để tránh bị phát hiện Trượng nói dối chị N1 “em đánh xe đi sửa để chân phanh”, chị N1 tin tưởng không nghi ngờ gì, đồng ý để T điều khiển xe đi sửa. Khoảng 10 giờ 15 phút, cùng ngày Được được giao điều khiển xe ô tô BKS: 29D - 060.06 đi giao hàng ở TP ., tỉnh Thái Nguyên nên trên đường đi

Được ra chỗ cất giấu 05 thùng hàng lấy mang đi tiêu thụ. Khi đi đến chỗ cất giấu thì Được chỉ thấy có hai thùng hàng, Được bê hai thùng hàng nên xe ô tô và mang đi TP . tìm nơi tiêu thụ nhưng không tìm được nơi tiêu thụ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ điện thoại cho anh Nguyễn Kim Đ1, SN 1987 ở thôn N, L, L, Vĩnh Phúc giới thiệu “em có hai máy rửa xe mua được rẻ của Công ty, muốn bán với giá là 2.100.000 đồng” do đang cần tìm mua máy rửa xe mang về gia đình sử dụng nên Đ1 đồng ý và hẹn Được ở khu vực T, TP . để giao hàng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực vòng xuyến T, TP ., Được bán cho Đ1 hai máy rửa xe với giá là 2.100.000 đồng. Hai máy rửa xe còn lại Được bán cho một người đàn ông khoảng 50 tuổi không quen biết gần khu V, TP . với giá là 2.100.000 đồng. Ngày 30/11/2023 tại xưởng sản xuất của bà H1, Đ gặp T nói “chỉ thấy 2 thùng hàng, bán được 4.200.000 đồng” nghe Đ nói vậy T bảo “rõ ràng tao để đấy 5 thùng”. Sau đó, Đ đưa cho T số tiền 4.200.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu hết. Sau khi phát hiện bị mất máy rửa xe bà H1 đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Ngày 18/12/2023 Cơ quan Công an tiến hành triệu tập T và Đ làm việc. Tại Cơ quan Công an Trượng và Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 05/1/2024, sau khi được Cơ quan Công an thông báo, anh Đ1 đã tự nguyện giao nộp hai chiếc máy rửa xe trên để Cơ quan Công an giải quyết. (BL 75)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/TCKH ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T xác định: 10 (mười) chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT – PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v. Tài sản chưa qua sử dụng. Có giá trị là: 10 chiếc x 1.500.000đ/chiếc = 15.000.000 đồng. Tổng giá trị là: 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng chẵn).

Về xử lý vật chứng:

Ngày 06/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bà H1 02 chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT – PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v.

Đối với 6 chiếc máy rửa xe còn lại, do T2 và Đ không biết ai lấy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 99C - 075.99 và chiếc xe ôtô BKS: 29D - 060.06 mà T và Đ sử dụng để phạm tội và tiêu thụ tài sản phạm tội là xe của hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị H1 nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà H1 đã nhận lại 02 chiếc máy rửa xe do bị cáo T và bị cáo Đ trộm cắp, 08 máy rửa xe còn lại bà H1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Bà H1 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự trong vụ án này.

Bị cáo T đã trả lại cho anh Nguyễn Kim Đ1 số tiền 2.100.000đ tiền anh Đ1 mua máy rửa xe của T và Đ, do vậy anh Đ1 không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSTD ngày 19/4/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Triệu Văn TVi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo nhận tội và khai nhận: Khoảng 7 giờ 40 phút ngày 29/11/2024, tại nhà kho hộ kinh doanh của bà Nguyễn Thị H1 ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Triệu Văn TVi Văn Đ có hành vi lén lút trộm cắp 10 chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT - PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v, chưa qua sử dụng, có giá trị 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) của hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị H1 để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Triệu Văn TVi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Triệu Văn TVi Văn Đ từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm .

Giao bị cáo Triệu Văn T3 cho UBND xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang quản lý, giáo dục trong thời gian hưởng án treo.

Giao bị cáo Vi Văn Đ cho UBND xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý, giáo dục trong thời gian hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết

Về vật chứng:

Ngày 06/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bà H1 02 chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT – PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v.

Đối với 6 chiếc máy rửa xe còn lại, do T3 và Đ không biết ai lấy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 99C - 075.99 và chiếc xe ôtô BKS: 29D - 060.06 mà T3 và Đ sử dụng để phạm tội và tiêu thụ tài sản phạm tội là xe của hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị H1 nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.

Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 7 giờ 40 phút ngày 29/11/2024, tại nhà kho hộ kinh doanh của bà Nguyễn Thị H1 ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Triệu Văn TVi Văn Đ có hành vi lén lút trộm cắp 10 chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT - PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v, chưa qua sử dụng, có giá trị 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) của hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị H1 để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử các bị cáo Triệu Văn TVi Văn Đ về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Các bị cáo Triệu Văn TVi Văn Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo là phù hợp.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm với nhau về tội trộm cắp tài sản, xét về vai trò của các bị cáo thì thấy bị cáo T là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau khi được bị cáo T rủ, bị cáo Đ cũng là người tích cực thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và mang tài sản đi tiêu thụ nên có thể thấy các bị cáo vai trò cơ bản là ngang nhau.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

[5] Về vật chứng:

Ngày 06/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bà H1 02 chiếc máy xịt rửa xe nhãn hiệu HATTO, Model: HT – PW 1000, công xuất 1500W, sử dụng nguồn điện 220v.

Đối với 6 chiếc máy rửa xe còn lại, do T2 và Đ không biết ai lấy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 99C - 075.99 và chiếc xe ôtô BKS: 29D - 060.06 mà T và Đ sử dụng để phạm tội và tiêu thụ tài sản phạm tội là xe của hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị H1 nên Cơ quan điều tra không thu giữ là đúng quy định pháp luật.

[6] Liên quan trong vụ án:

Liên quan trong vụ án này có anh Đ1 đã mua của Được 02 chiếc máy rửa xe nhưng không biết 02 chiếc máy rửa xe này do Được và T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Đ1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối người đàn ông đã mua của Được 02 chiếc máy rửa xe, do Được không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Triệu Văn TVi Văn Đ phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Triệu Văn TVi Văn Đ mỗi bị cáo 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Triệu Văn T cho UBND xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Vi Văn Đ cho UBND xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Triệu Văn TVi Văn Đ.

  3. Về vật chứng: Không
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  5. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện Tiên Du;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà




Nguyễn Anh Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 108/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trom cap tai san
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger