|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2024 Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng;
Bà Phạm Hồng Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Phương Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Kim C, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở hiện nay: Số G T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn C1, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Kim C trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, chị và anh Phạm Văn C1 tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86/2018 ngày 20/11/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Đến khi chị mang thai khoảng 08 tháng, thì về nhà cha mẹ ruột tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang sinh sống, khi đó anh C1 có cùng đi theo. Sau khi chị sinh xong, thì vẫn sống bên nhà cha mẹ ruột của chị. Đến khi bùng phát dịch COVID-19, thì chị và anh C1 mới về nhà mẹ của anh C1 tại ấp V, xã T sinh sống.
Thời gian đầu, vợ chồng sinh sống với nhau vui vẻ, hạnh phúc. Đến khoảng tháng 6/2022, giữa chị và anh C1 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, từ đó chị và anh C1 ly thân với nhau cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn C1.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh C1 có một người con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 21/6/2019. Hiện tại con đang ở với chị, nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh C1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị C xác định quá trình chung sống chị và anh C1 không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn C1 trình bày tại biên bản lấy lời khai và phiên họp hòa giải như sau:
Anh thống nhất lời trình bày của chị C về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu xin ly hôn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị C, anh có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị C không lớn, anh sẽ cố gắng hàn gắn tình cảm, để vợ chồng cùng sống để nuôi con, nên anh không đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Kim C.
- Về quan hệ con chung: Anh đồng ý giao con cho cho chị C được tiếp tục nuôi con, nhưng với điều kiện chị C phải tạo điều kiện cho anh đến thăm nom, chăm sóc, được đưa con đi chơi, thậm chí đưa con về thăm nội vào dịp hè hoặc nghĩ lễ nhiều ngày.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất giữa anh và chị C không có nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Huỳnh Kim C yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn C1; Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Phạm Văn T, sinh ngày 21/6/2019 đến tuổi trưởng thành và chị không yêu cầu anh C1 phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Phạm Văn C1 không đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Kim C; Về con chung: Anh đồng ý giao con cho cho chị C được tiếp tục nuôi con, nhưng với điều kiện chị C phải tạo điều kiện cho anh đến thăm nom, chăm sóc, được đưa con đi chơi, thậm chí đưa con về thăm nội vào dịp hè hoặc nghĩ lễ nhiều ngày; Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị C không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa trình bày như sau:
- Việc thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Kim C được ly hôn với anh Phạm Văn C1.
Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn C1 giao con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 21/6/2019 cho chị Huỳnh Kim C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị HĐXX không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Kim C và anh Phạm Văn C1 thống nhất là không có, nên đề nghị HĐXX không giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Huỳnh Kim C xin được ly hôn và nuôi con với anh Phạm Văn C1. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Phạm Văn C1 có nơi cư trú tại ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Kim C và anh Phạm Văn C1 tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86/2018 ngày 20/11/2018. Như vậy, hôn nhân giữa chị C và anh C1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị C về việc xin ly hôn với anh C1 thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị C và anh C1 có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị C trình bày là do chị và anh C1 bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, từ đó chị và anh C1 ly thân với nhau cho đến nay. Còn anh C1 cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị C không lớn, nên anh không đồng ý ly hôn với chị C.
Tuy nhiên, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của chị C và anh C1, anh chị đã ly thân hơn hai năm nay, chị C không còn tình cảm, không muốn hàn gắn và không muốn sống chung với anh C1, nên mối quan hệ này không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng. Vì vậy, anh chị không thể xây dựng được gia đình hạnh phúc. Đồng thời, anh C1 cũng xác định trong thời gian chị C và anh C1 sống ly thân với nhau, thì giữa chị C và anh C1 ít quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Do đó, HĐXX xét thấy mục đích hôn nhân của chị C và anh C1 không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C và cho chị C được ly hôn với anh C1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị C và anh C1 có một người con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 21/6/2019. Hiện tại cháu T đang ở bên gia đình chị C, nên khi ly hôn chị C yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành.
Tại phiên tòa, qua quá trình giải thích động viên, thiết phục, thì anh C1 cũng đồng ý để con sinh sống với gia đình bên vợ. Do đó, HĐXX ghi nhận tự nguyện của anh C1.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị C tự nguyện không yêu cầu anh C1 cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh C1 xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Huỳnh Kim C phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên toà là có cơ sở, nên HĐXX xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Kim C được ly hôn với anh Phạm Văn C1.
2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn C1 về việc giao cháu tên Phạm Văn T, sinh ngày 21/6/2019 cho chị Huỳnh Kim C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Huỳnh Kim C nuôi con; anh Phạm Văn C1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Huỳnh Kim C và anh Phạm Văn C1 xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Kim C phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị C đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001165 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Huỳnh Kim C không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
7
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Kim Ch kiện Phạm Văn Ch
