|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/HS-ST Ngày: 11 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Phước. |
| Ông Dư Văn Thanh. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Minh T, sinh ngày: 15/11/1994 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Sơn A và bà Võ Thị T1; vợ, con chưa có; tiền sự: 01 lần, tại Quyết định số 126/QĐ-TA ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; Tiền án: 01 lần, tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HSST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù, về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 05/07/2023 (chưa được xóa án tích); nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2011/HSST ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong, đã xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2024 và chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Tất Gia I, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số 1 đường C, Khóm F, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/8/2023, Đặng Minh T rủ Tất Gia I uống cà phê. Sau đó, I điều khiển xe mô tô biển số 83P4-262.15 chở Thật đến một quán cà phê đường V, Khóm G, Phường B, thành phố S để ăn uống. Sau khi ăn uống xong, do T không có tiền trả nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của I đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Với ý định đó, T giả bộ hỏi mượn xe mô tô của I đi mua ma túy về để sử dụng nhằm để In giao xe mô tô biển số 83P4-262.15 cho Thật. Sau khi I giao xe, T điều khiển xe đi cầm cố cho một người tên B (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với số tiền 4.000.000 đồng và sử dụng số tiền này để trả tiền ăn uống, mua ma túy sử dụng và chơi game bắn cá hết. Đối với ông I, sau khi giao xe cho T thì không liên lạc được với T nữa nên đi về. Đến sáng ngày 30/8/2023, I điện thoại cho T đòi xe nhưng T nói đã đưa xe đi cầm cố, không có tiền để chuộc xe trả cho I nên I làm đơn trình báo cơ quan Công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 138/KL-HĐĐG ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Một xe mô tô biển số 83P4-262.15, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh đen bạc, số máy JA39E1238519, số khung 3919KY370771, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, có giá 12.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 103/CT-VKSTPST ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Đặng Minh T về tội “Lừa đảo chiến đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Đặng Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Lừa đảo chiến đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; áp dụng s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận, tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.500.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Minh T thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000 đồng, không trình bày tranh luận bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại I yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.500.000 đồng, về trách nhiệm hình sự đề nghị xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Minh T thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Đặng Minh T vì muốn có tiền để tiêu xài nên vào ngày 29/8/2023, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe mô tô biển số 83P4-262.15 của bị hại Tất Gia I đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua giám định, xe mô tô bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá là 12.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[3] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 12.500.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HSST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù, về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 05/07/2023, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2011/HSST ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 13/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong, đã xóa án tích và có 01 tiền sự tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 126/QĐ-TA ngày 24/10/2023 của Tòa án thành phố Sóc Trăng áp dụng thời gian 24 tháng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bà nội tên Nguyễn Thị L là người có công với cách mạng nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra không có thu giữ vật chứng nên không đặt ra xem xét.
[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.500.000 đồng và bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên, việc thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
[11] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Lừa đảo chiến đoạt tài sản”.
- Xử phạt: bị cáo Đặng Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Đặng Minh T bồi thường cho bị hại Tất Gia I số tiền 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí: buộc bị cáo Đặng Minh T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 625.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiến đoạt tài sản
