TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/DS-ST
Ngày: 10/7/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Bé Bảy
Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 484/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: F ấp L, xã Đ, Tp M, Tiền Giang. Có mặt
- Bị đơn: 1/ Anh Tăng Minh N, sinh năm: 1983. Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: D T, Phường D, thành phố M, Tiền Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 25/12/2023 tại VPCC L - Tiền Giang). Có mặt
2/ Chị Đào Thị Kiều N1, sinh năm 1983. Vắng mặt
Địa chỉ: 3 N, Phường H, thành phố M, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Trần Nguyễn Hoàng T1 trình bày:
Do có sự quen biết từ trước và tin tưởng nên anh T có cho vợ chồng anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 vay tiền, cụ thể như sau:
- Ngày 17/10/2018 cho vay 15.000.000 đồng
- Ngày 02/02/2019 cho vay 35.000.000 đồng
- Ngày 25/8/2019 cho vay 30.000.000 đồng.
Các lần cho vay đều có làm giấy vay nợ do anh N viết, ký tên và chị N1 có ký, ghi họ tên. Hai lần vay đầu thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng, anh N và chị N1 trả lãi đầy đủ. Đến lần vay thứ 3 thì vốn tổng cộng là 80.000.000 đồng, anh N chị N1 xin đóng lãi làm tròn là 3.000.000 đ/tháng. Mục đích vay tiền của anh N, chị N1 là để trả tiền công thợ do anh chị làm nghề phá dỡ các công trình nhà, làm đường đal và làm cầu bắc qua kênh. Cho vay không có thời hạn mà thỏa thuận khi nào anh T có yêu cầu trả tiền thì anh N và chị N1 sẽ hoàn trả đầy đủ vốn và lãi.
Sau khi vay, anh N chị N1 trả tiền lãi đầy đủ đến tháng 12/2019 thì ngừng trả tiền lãi. Tháng 01/2020 anh T liên hệ để yêu cầu trả tiền, anh N chị N1 hứa hẹn đợi bán đất sẽ có tiền trả nhưng đến nay vẫn không thấy trả. Anh T có tìm đến nhà nhưng không gặp, điện thoại cũng không được do đã bị chặn.
Nay, anh T khởi kiện yêu cầu anh N và chị N1 có nghĩa vụ trả số tiền vốn là 80.000.000 đồng, tiền lãi tính từ tháng 01/2020 đến ngày xét xử với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật
Anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, vẫn yêu cầu cả hai bị đơn trả tiền vốn vay 80.000.000 đồng, đối với yêu cầu trả lãi thì đồng ý tính lại lãi suất, yêu cầu mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày vay đến ngày xét xử, khấu trừ vào số tiền lãi đã nhận, còn lại thì yêu cầu bị đơn tiếp tục trả. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn thực hiện không đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết 01/2019, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh N và chị N1 trả cho anh T số tiền vốn 80.000.000 đồng và số tiền lãi còn lại sau khi khấu trừ số tiền lãi đã nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N, chị N1.
[2] Về nội dung tranh chấp
[2.1] Tại phiên tòa, anh Phan Thanh T thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 trả số tiền vay là 80.000.000 đồng và trả tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng tính từ ngày vay đến ngày xét xử, khấu trừ vào tiền lãi đã nhận. Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là giấy vay nợ ngày 17/10/2018, ngày 02/02/2019 và giấy vay nợ ngày 25/8 không có ghi năm.
[2.2] Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến ngày xét xử, bị đơn Tăng Minh N và Đào Thị Kiều N1 vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
[2.3] Về yêu cầu trả tiền vốn:
[2.3.1] Theo giấy vay nợ ngày 17/10/2018 thể hiện anh N chị N1 có vay của anh T số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn trả trong 15 ngày, không ghi lãi suất, có anh N và chị N1 ký ghi họ tên.
[2.3.2] Theo giấy vay nợ ngày 02/02/20219 thể hiện anh N chị N1 có vay của anh T số tiền 35.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả, không ghi lãi suất, có anh N và chị N1 ký ghi họ tên.
[2.3.3] Theo giấy vay nợ ngày 25/8 (không ghi năm) thể hiện anh N vay của anh T số tiền 30.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả, có ghi lãi suất hàng tháng là 3.000.000 đồng, chỉ có anh N ký và ghi họ tên. Theo giấy vay tiền này, nguyên đơn xác định là ngày 25/8/2019, bị đơn vắng mặt và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử xác định theo trình bày của nguyên đơn.
[2.3.4] Như vậy, căn cứ vào các giấy vay tiền trên thì có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định anh N và chị N1 có vay tiền của anh T ở hai lần vay đầu với số tiền là 50.000.000 đồng, đây là nợ chung. Đối với lần vay thứ ba số tiền 30.000.000 đồng chỉ có anh N ký ghi họ tên, nội dung cũng không thể hiện mục đích vay, do đó xác định chỉ có anh N vay tiền, là nợ riêng của anh N.
Không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện bị đơn vay tiền sử dụng vào mục đích gì và đã trả tiền cho nguyên đơn xong.
Theo nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa thì lần vay thứ nhất có ghi thời hạn 15 ngày trả nhưng sau đó hai bên thống nhất là khi nào nguyên đơn có yêu cầu trả tiền thì bị đơn sẽ trả, hai lần vay sau không có ghi thời hạn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định là các hợp đồng vay không kỳ hạn.
[2.3.5] Từ phân tích trên, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu anh N và chị N1 trả số tiền 50.000.000 đồng. Đối với số tiền 30.000.000 đồng thì chỉ có cơ sở buộc anh N trả tiền cho nguyên đơn.
[2.4] Về yêu cầu trả tiền lãi, tại phiên tòa nguyên đơn thừa nhận hai lần đầu cho vay 3%/tháng và đã nhận lãi đến tháng 12/2019, đồng ý tính lại theo mức lãi suất 1,66%/tháng nên Hội đồng xét xử tính lại cho phù hợp như sau:
[2.4.1] Giấy vay nợ ngày 17/10/2018 số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, bị đơn đã trả lãi đến tháng 12/2019 là 14 tháng, thành tiền là 6.300.000 đồng (450.000đ/tháng).
Tính lãi suất 1,66%/tháng, 14 tháng, thành tiền là 3.486.000 đồng (249.000đ/tháng)
[2.4.2] Giấy vay nợ ngày 02/02/2019 số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, bị đơn trả lãi tính đến tháng 12/2019 là 10 tháng, thành tiền là 10.500.000 đồng (1.050.000đ/tháng).
Tính lãi suất 1,66%/tháng, 10 tháng, thành tiền là 5.810.000 đồng (581.000đ/tháng)
Như vậy, hai lần vay này anh N, chị N1 đã trả lãi được số tiền 16.800.000 đồng (6.300.000 +10.500.000đ). Tính theo quy định pháp luật thì anh N, chị N1 chỉ phải trả số tiền 9.296.000 đồng (3.486.000đ +5.810.000đ).
[2.4.3] Đến lần vay ngày 25/8/2019 khi vay tiếp số tiền 30.000.000 đồng thì anh N có ghi trả lãi 3.000.000 đồng/tháng vào giấy vay tiền. Theo nguyên đơn thì tiền lãi này là tính số tiền của cả 03 lần vay chứ không phải của lần vay thứ ba này.
Xét, theo giấy vay tiền ngày 25/8/2019 thể hiện anh N vay của anh T 30.000.000 đồng, có nội dung “số tiền lãi hàng tháng là 3.000.000 đồng”, không có nội dung gì thể hiện đây là số tiền lãi phải trả của cả ba lần vay, nguyên đơn cũng không có tài liệu chứng cứ thể hiện đây là tiền lãi phải trả của cả 03 lần vay nên Hội đồng xét xử xác định đây là thỏa thuận lãi của lần vay thứ ba này. Xác định đây là khoản vay của riêng anh N, nguyên đơn thừa nhận đã được trả lãi đầy đủ đến hết tháng 12/2019, như vậy là 04 tháng, thành tiền là 12.000.000 đồng, xác định số tiền này do anh N trả. Tính lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 1.992.000 đồng (498.000đ/tháng).
[2.4.4] Tiền lãi tính từ tháng 01/2020 đến ngày xét xử 10/7/2024 là 53 tháng 15 ngày (53,5 tháng), nguyên đơn chỉ yêu cầu lãi suất 1,66%/tháng, không có yêu cầu gì thêm là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Lãi suất được tính như sau:
- Số tiền 50.000.000 đồng, 53,5 tháng, 1,66%/tháng, mỗi tháng là 830.000 đồng, thành tiền là 44.405.000 đồng.
- Số tiền 30.000.000 đồng là 53,5 tháng, 1,66%/tháng, mỗi tháng là 498.000 đồng, thành tiền là 26.643.000 đồng.
[2.4.5] Như vậy, số tiền lãi bị đơn phải trả như sau:
-Đối với số tiền 50.000.000 đồng, tiền lãi phải trả là 53.701.000 đồng (9.296.000đ + 44.405.000đ). Anh N, chị N1 đã trả được 16.800.000 đồng nên còn phải trả tiếp số tiền là 36.901.000 đồng.
-Đối với số tiền 30.000.000 đồng, tiền lãi phải trả là 28.635.000 đồng (1.992.000 đ+ 26.643.000₫). Anh N đã trả được số tiền 12.000.000 đồng nên còn phải trả tiếp số tiền 16.635.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn đã đồng ý tính lại tiền lãi theo quy định, đối trừ với tiền lãi đã trả, còn lại bao nhiêu thì yêu cầu bị đơn tiếp tục trả cho nguyên đơn. Xét, ý kiến thay đổi này là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Do đó cần buộc anh N, chị N1 trả tiếp số tiền lãi là 36.901.000 đồng, anh N phải trả tiếp số tiền lãi là 16.635.000 đồng.
Như vậy, số tiền vốn và lãi phải trả như sau:
- Anh N và chị N1 trả số tiền 86.901.000 đồng gồm 50.000.000 đồng tiền vốn và 36.901.000 đồng tiền lãi;
- Anh N trả số tiền 46.635.000 đồng gồm 30.000.000 đồng tiền vốn và 16.635.000 đồng tiền lãi.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật đối với nghĩa vụ trả tiền.
[4] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466, 468, 469, 357 Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thanh T.
- Buộc anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 có nghĩa vụ trả cho anh Phan Thanh T số tiền 86.901.000 đồng (Tám mươi sáu triệu, chín trăm lẻ một ngàn đồng).
- Buộc anh Tăng Minh N có nghĩa vụ trả cho anh Phan Thanh T số tiền 46.635.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng).
Trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp anh N, chị N1 chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Anh Tăng Minh N và chị Đào Thị Kiều N1 chịu số tiền là 4.345.050 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Tăng Minh N chịu số tiền là 2.331.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí số tiền 2.400.000 đồng theo biên lai số 005533 ngày 25/12/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 108/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 108/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trả tiền vay
