TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-5-2024
V/v ly hôn, xác định cha cho con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số : 229/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 về việc ly hôn, xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2023/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn N (nay là thôn C), xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Bị đơn: Anh L, Y-chin, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ T, đường T, cụm A, phường T, thị trấn T, huyện N, Đài Loan; vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Thị Thu H1 trình bày:
Chị Bùi Thị H1 và anh L, Y-chin kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 12 tháng 10 năm 2017. Sau khi kết hôn, anh chị sung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không phù hợp về phong cách sống, quan điểm về quản lý kinh tế, khác biệt về văn hóa và lối sống. Anh L, Y -chin bỏ về Đài Loan sinh sống từ tháng 11 năm 2018 đến nay. Từ đó hai người sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị Bùi Thị H1 xác định không còn khả năng đoàn tụ, nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, Y-chin.
Về con chung và tài sản chung: Chị Bùi Thị H1 và anh L, Y-chin không có con chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời gian sống ly thân với anh L, Y-C, chị có quan hệ tình cảm với anh anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng và sinh được 01 bé trai, dự định đặt tên là Nguyễn Quang Bảo P1 vào ngày 15/5/2023 tại Bệnh viện P2. Anh P và bé trai nêu trên đã làm xét nghiệm AND tại Công ty Cổ phần D; địa chỉ: Tầng B Tòa nhà H, B T, quận T, thành phố H. Tại phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2300311 ngày 03/6/2023 của công ty ghi nhận: Căn cứ vào kết quả phân tích AND, Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D kết luận: Anh Nguyễn Quang P và bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Quang B Phong có quan hệ huyết thống Cha - con; tỷ lệ 99,9999%. Nay để đảm bảo quyền làm cha cho anh P và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu trai nêu trên, chị H1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định: Anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của bé trai do chị sinh ra ngày 15/5/2023 và dự định đặt tên Nguyễn Quang Bảo P1 (giấy chứng sinh số 04204, quyến số 43/2023 tại Bệnh viện P2).
Về bị đơn là anh L, Y - C: Anh L, Y - C hiện đang ở Đài Loan, sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền tại Đài Loan để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh L, Y - C. Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được công văn số 526 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Bộ Tư pháp về việc thông báo kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp đối với anh L, Y – C: Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện uỷ thác tư pháp đối với anh L, Y – C vào ngày 06/02/2024 bằng phương thức: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự. Tuy nhiên, đến nay anh L, Y – chin không cung cấp lời khai, quan điểm, ý kiến về việc giải quyết vụ án và cũng không có mặt tại Toà án.
Tại bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang P trình bày:
Đầu năm 2021, anh có quen biết với chị Bùi Thị H1. Khi đó anh P có biết hoàn cảnh của chị H1 đang sống ly thân với chồng là anh L, Y-C. Chị H1 có tâm sự với anh P về tình trạng hôn nhân không hạnh phúc, chị H1 sống ly thân với anh L, Y- C từ tháng 11/2018, mỗi người có một cuộc sống riêng. Sau đó anh P và chị H1 có quan hệ tình cảm với nhau. Chị H1 đã mang thai và sinh được 01 bé trai, dự định đặt tên là Nguyễn Quang Bảo P1 vào ngày 15/5/2023 tại Bệnh viện P2. Do chị H1 sinh bé trai trên trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với anh L, Y-Chin nên anh P và chị H1 chưa làm được giấy khai sinh cho bé trai được.
Anh P và bé trai do chị H1 sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Quang B P1 đã làm thủ tục xét nghiệm AND tại Công ty D; địa chỉ: T Tòa nhà H, B T, quận T, thành phố H. Tại phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2300311 ngày 03/6/2023 của công ty ghi nhận: Căn cứ vào kết quả phân tích AND, Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D kết luận: Anh Nguyễn Quang P và bé trai dự dịnh đặt tên là Nguyễn Quang B Phong có quan hệ huyến thống Cha - con; ty lệ 99,9999%.
Nay chị H1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định: Anh P là cha đẻ của bé trai do chị H1 sinh ra ngày 15/5/2023 và dự định đặt tên Nguyễn Quang Bảo P1 (giấy chứng sinh số 04204, quyển số 43/2023 tại Bệnh viện P2), anh P đồng ý.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H1: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H1. Về con chung: Theo lời khai của chị Bùi Thị H1 giữa chị và anh L, Y - Chin không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Đối với yêu cầu xác nhận cha cho con của chị: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các điều 88, 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H1: Xác định anh Nguyễn Quang P là cha đẻ của cháu Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15/5/2023. Về án phí và các chi phí khác: Chị Bùi Thị H1, anh Nguyễn Quang P phải chịu án phí, và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về xác định cha cho con. Bị đơn anh L, Y-chin là người Đài Loan hiện đang sinh sống ở nước ngoài, nguyên đơn chị Bùi Thị Thu H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang P hiện đang sinh sống tại Hải Phòng theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về thủ tục tống đạt cho bị đơn: Theo địa chỉ mà chị Bùi Thị H1 cung cấp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L, Y - C. Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được công văn số 526 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Bộ Tư pháp về việc thông báo kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp đối với anh L, Y – C: Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện uỷ thác tư pháp đối với anh L, Y – C vào ngày 06/02/2024 bằng phương thức: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự. Đến ngày mở phiên họp, phiên toà lần 1 và lần 2 anh L, Y – chin vẫn vắng mặt và cũng không cung cấp quan điểm, ý kiến về việc giải quyết vụ án cho Toà án. Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L, Y - C.
- Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H1 đối với anh L, Y - C:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H1 và anh L, Y - Chin kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 12 tháng 10 năm 2017. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H1 và anh L, Y - Chin là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do không phù hợp về phong cách sống, quan điểm về quản lý kinh tế, khác biệt về văn hóa và lối sống. Anh L, Y-chin bỏ về Đài Loan sinh sống từ tháng 11 năm 2018 đến nay. Từ đó hai người sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H1 và anh L, Y - chin đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, yêu cầu của chị Bùi Thị H1 về việc xin ly hôn với anh L, Y - C là có cơ sở và chính đáng, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị H1, cho chị Bùi Thị H1 được ly hôn anh L, Y – C.
[3.2.] Về con chung và tài sản chung: Chị Huyền A và anh L, Y - Chin không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Xét yêu cầu xác định cha cho con:
[4] Chị Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Quang P thống nhất trình bày trong thời kỳ hôn nhân nhưng đã ly thân với anh L, Y - C, chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng và sinh được 01 bé trai, dự định đặt tên là Nguyễn Quang Bảo P1 vào ngày 15/5/2023 tại Bệnh viện P2. Anh P và bé trai nêu trên đã làm xét nghiệm AND tại Công ty Cổ phần D.
[5] Tại phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2300311 ngày 03/6/2023 của Công ty cổ phần D ghi nhận: Căn cứ vào kết quả phân tích AND, Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D kết luận: Anh Nguyễn Quang P và bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Quang B Phong có quan hệ huyết thống Cha - con; tỷ lệ 99,9999%. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị H1, xác định anh Nguyễn Quang P là cha đẻ của cháu: Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15/5/2023 (giấy chứng sinh số 04204, quyển số 43/2023 tại Bệnh viện P2.
[6] Căn cứ lời khai của các đương sự, phù hợp kết quả phân tích ADN của Công ty cổ phần D, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị H1, xác định anh Nguyễn Quang P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là: Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15/5/2023 (Theo Giấy chứng sinh số 04204, quyển số 43/2023 tại Bệnh viện P2).
[7] Vì vậy, yêu cầu của chị Bùi Thị H1 về việc ly hôn đối với anh L, Y - C và về việc xác định anh Nguyễn Quang P là cha đẻ của cháu: Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15/5/2023 là có cơ sở và chính đáng, nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 88, các điều 89, 101, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H1: Cho chị Bùi Thị H1 được ly hôn với anh L, Y - Chin và xác định anh Nguyễn Quang P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là: Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15/5/2023 (Theo Giấy chứng sinh số 04204, quyển số 43/2023 tại Bệnh viện P2).
[8] Về án phí: Theo quy định tại b khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì chị Bùi Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; anh Nguyễn Quang P phải chịu 300.000 đồng án phí về việc xác định cha cho con.
[9] Về phí ủy thác tư pháp: Chị Bùi Thị H1 phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 88, Điều 89, khoản 2 Điều 101, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 147; Điều 151; Điều 152; Điều 153; Điều 154; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; Điều 470; khoản 4, 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H1
- Cho chị Bùi Thị H1 được ly hôn với anh L, Y - C.
- Xác định anh A Nguyễn Quang P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu: Nguyễn Quang Bảo P1 sinh ngày 15 tháng 5 năm 2023 (Theo Giấy chứng sinh số 04204, quyển số 43/2023 tại Bệnh viện P2).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Bùi Thị H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000051 ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; chị Bùi Thị H1 đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Quang P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xác định cha cho con.
- Về chi phí ủy thác tư pháp:
- Chị Bùi Thị H1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) chi phí ủy thác tư pháp để tống đạt Văn bản tố tụng của tòa án cho anh L, Y - C, được trừ số tiền tạm ứng 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000277 ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng;
- Chị Bùi Thị H1 còn phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng chi phí ủy thác để tống đạt bản án cho anh L, Y - C.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Bùi Thị H1, anh Nguyễn Quang P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh L, Y - Chin được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thuý |
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, xác định cha cho con
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị H - Liu Y
