TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 108/2024/HS - ST Ngày 08 - 5 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và bà Dương Thị Hoa.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thế Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:
- - Họ và tên: Lò Văn C, sinh ngày 20/6/2006. Giới tính: Nam.
- - Tên gọi khác: Không có.
- - Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: La ha; Tôn giáo: Không.
- - Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12.
- - Con ông: Lò Văn Đ (đã chết).
- - Con bà: Lò Thị L.
- - Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ ba.
- - Vợ con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Bị cáo đầu thú, bị khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Như Q – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Lò Thị L, sinh năm 1976; địa chỉ: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. (có mặt)
Người đại diện của bị cáo do Toà án chỉ định là ông Ngần Văn Q1- Bí thư Đoàn xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. (vắng mặt)
- Bị hại: Anh Bế Văn T, sinh năm 1999; địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nông Văn H, sinh năm 2004; địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn C- sinh ngày 20/6/2006, trú tại bản Ten Che, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; anh Bế Văn T- sinh năm 1999 và anh Nông Văn H- sinh năm 2004 cùng trú tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang có quan hệ quen biết nhau. Anh Tú thuê trọ phòng số 20, anh H thuê trọ phòng số 19, C cùng bạn ở phòng số 18 tại Nhà trọ của anh Ngô Văn Q2- sinh năm 1987 ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 20 giờ ngày 31/10/2023, anh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng, chưa có biển kiểm soát (xe của anh T mới mua tháng 10/2023) chở anh T về nhà trọ và để xe ở khu vực để xe của nhà trọ rồi đi lên phòng trọ của mình; anh H đi lên phòng trọ được khoảng 05 phút thì C sang chơi. Thấy anh H để chìa khóa xe mô tô của anh T ở giường nên C nảy sinh ý định lấy chìa khóa xe để trộm cắp xe mô tô của anh T. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, anh H chuẩn bị đi ra ngoài ăn cơm thì C ra ngoài hành lang nhà trọ đứng. Anh H khóa cửa phòng và để chìa khóa ở cửa sổ phòng trọ rồi đi ăn cơm. Khi anh H đi ra khỏi nhà trọ thì C lấy chìa khóa phòng, mở cửa phòng của anh H rồi đi vào trong phòng lấy chìa khóa xe của anh T. Sau khi lấy chìa khóa xe của anh T, C khóa cửa phòng lại và để chìa khóa phòng vào vị trí cũ. C cầm chìa khóa xe của anh T xuống khu vực để xe, dùng khóa mở khóa điện của xe rồi dắt xe của anh T ra ngoài. Khi C dắt xe của anh T ra ngoài thì làm đổ chiếc xe mô tô bên cạnh nên bị anh Ngô Văn Q2 là chủ nhà trọ phát hiện bảo dựng xe lên. Anh Q2 nghĩ là C mượn xe của anh T nên để C dắt xe ra khỏi nhà trọ. Sau khi dắt xe của anh T ra khỏi nhà trọ, C điều khiển xe đi đến địa phận thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh rồi thuê nhà nghỉ ngủ qua đêm. Sáng ngày 01/11/2023, C dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus chụp ảnh chiếc xe và giao bán trên mạng xã hội facebook thì có một người thanh niên không quen biết liên hệ với C để hỏi mua xe. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C và người thanh niên này gặp nhau tại vỉa hè đường ở thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để mua bán xe. Sau khi thỏa thuận, thống nhất thì C bán chiếc xe của anh T cho người thanh niên này với giá 7.200.000 đồng. C sử dụng số tiền này mua một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus với giá 4.500.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết số tiền còn lại.
Sau khi phát hiện bị trộm cắp mất chiếc xe mô tô, anh Bế Văn T đã trình báo Công an thị trấn N, huyện V (nay là Công an phường N, thị xã V). Ngày 13/11/2023, Công an thị trấn N (nay là phường N) đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V (nay là Công an thị xã V) giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã trích xuất, thu giữ dữ liệu camera tại hiện trường và cho anh Bế Văn T, anh Nông Văn H và Lò Văn C xem đoạn vi deo thu giữ. Kết quả anh T, anh H và C xác định có hình ảnh C đi vào khu vực để xe của nhà trọ rồi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh T.
Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, chưa có biển kiểm soát, mua ngày 08/10/2023, đã qua sử dụng, có trị giá là 21.500.000 đồng.
Ngày 22/02/2024, Lò Văn C đến Công an thị xã V đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của anh T. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, dung lượng 64G, số I: 353013091776977, lắp thẻ sim số 0346.826.859 (C khai mua chiếc điện thoại này bằng tiền bán xe mô tô trộm cắp của anh T có được).
Ngày 23/02/2024, Cơ quan điều tra đã cho anh Bế Văn T và anh Ngô Văn Q2 nhận dạng ảnh Lò Văn C. Kết quả anh T và anh Q2 nhận dạng đúng ảnh C và xác định C là người đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh T ngày 31/10/2023.
Cơ quan điều tra đã kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus tạm giữ của Lò Văn C nhưng không phát hiện nội dung có liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave A, màu trắng, chưa có biển kiểm soát mà C trộm cắp của anh T. Kết quả điều tra xác định, sau khi trộm cắp xe của anh T thì C đã bán cho một người thanh niên không quen biết ở khu vực thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được chiếc xe nêu trên.
Đối với người thanh niên mua chiếc xe mô tô do C trộm cắp của anh T. Kết quả điều tra xác định C không biết tên tuổi, địa chỉ của người này; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus mà C dùng để liên lạc với người này qua mạng xã hội facebook thì đã rơi mất, C không nhớ mật khẩu truy cập tài khoản facebookc của mình và không nhớ tài khoản facebook của người thanh niên này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý đối với thanh niên nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Chung và gia đình đã bồi thường cho anh Bế Văn T số tiền 21.500.000 đồng. Đến nay anh T không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lò Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn C từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lò Văn C thuộc hộ nghèo, dưới 18 tuổi, là dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Chung và gia đình đã bồi thường cho anh Bế Văn T số tiền 21.500.000 đồng. Đến nay anh T không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chung. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho Lò Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, dung lượng 64G, số I: 353013091776977, lắp thẻ sim số 0346.826.859.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn C thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận như sau: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, là dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; đã bồi thường, khắc phục hậu quả và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên, xử bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Lò Văn C nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên qua trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/10/2023, tại tầng 1, nhà trọ của anh Ngô Văn Q2- sinh năm 1987 ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Lò Văn C có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, chưa có biển kiểm soát, có trị giá là 21.500.000 đồng của anh Bế Văn T- sinh năm 1999, trú tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; đã bồi thường, khắc phục hậu quả và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo là người dưới 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên xử phạt tù có thời hạn và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lò Văn C thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; dưới 18 tuổi, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, màu trắng, chưa có biển kiểm soát mà C trộm cắp của anh T. Kết quả điều tra xác định, sau khi trộm cắp xe của anh T thì C đã bán cho một người thanh niên không quen biết ở khu vực thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu hồi được chiếc xe nêu trên.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, dung lượng 64G, số I: 353013091776977, lắp thẻ sim số 0346.826.859 do C dùng tiền bán xe máy trộm cắp để mua. Tuy nhiên, bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại nên cần trả lại cho bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Chung và gia đình đã bồi thường cho anh Bế Văn T số tiền 21.500.000 đồng. Đến nay anh T không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chung. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[9]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn C 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho Lò Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, dung lượng 64G, số I: 353013091776977, lắp thẻ sim số 0346.826.859.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 108/2024/HS - ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 108/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
