Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Thắng và ông Phạm Hữu Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A P, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản X, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Không học; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng Vảng G (đã chết) và bà Vàng Thị D, sinh năm 1936; có vợ là Vừ Thị T (đã chết), có 01 người con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 19/01/2024, tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.

* Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Sùng A G1, sinh năm 1988; địa chỉ: Bản X, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại bản X, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an xã R, huyện T bắt quả tang bị cáo Sùng A P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, dạng bột nghi ma túy (loại Heroine); 03 gói nilon màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất dẻo màu nâu đen, nghi thuốc phiện.

Ngày 10/01/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định:

- Chất màu trắng dạng cục và bột có trong 01 gói nilon màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng 5,59 gam (ký hiệu M1), gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.

- Chất dẻo màu nâu đen có trong 03 gói nilon màu trắng thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng 50,7 gam (ký hiệu M2, M3, M4), gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Sùng A P có ký hiệu, khối lượng M1: 5,59 gam là chất ma túy: Loại Heroine; M2: 3,62 gam, M3: 4,55 gam và M4: 42,53 gam là chất ma túy: Loại nhựa thuốc phiện.

Quá trình điều tra bị cáo Sùng A P khai nhận: Khoảng cuối tháng 12 năm 2023 tại chợ T3 huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 40 tuổi 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng với giá 1.500.000 đồng và 01 gói nhựa thuốc phiện gói bằng nilon màu trắng với giá 2.500.000 đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người phụ nữ đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất giấu vào trong túi quần màu đen bên phải rồi đi bộ về nhà tại bản X, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên. Khoảng 20 giờ cùng ngày bị cáo về đến nhà bị cáo mở gói nhựa thuốc phiện ra dùng móng tay cấu chia thành 03 phần khác nhau rồi dùng các mảnh nilon màu trắng gói thành ba gói. Chia xong bị cáo lấy một ít thuốc phiện sử dụng bằng hình thức đốt hút, sử dụng xong bị cáo cất giấu gói H và 03 gói nhựa thuốc phiện vào hốc đá phía sau nhà. Đến 09 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 bị cáo dùng móng tay cấu lấy gói Heroine một ít bán cho một người đàn ông dân tộc Thái, không biết họ, tên, địa chỉ với giá 50.000 đồng, số H còn lại bị cáo gói lại cất giấu ở vị trí cũ. Đến 15 giờ 20 phút, ngày 10/01/2024 bị cáo lấy gói Heroine và 03 (ba) gói nhựa thuốc phiện cất giấu ở hốc đá phía sau nhà cho vào túi trong quần dài bên phải màu đen đang mặc rồi ngồi trên tảng đá thì tổ công tác Công an xã R, huyện T đến kiểm tra đã phát hiện và bắt quả tang bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Sùng A P thừa nhận hồi 15 giờ 30 phút, ngày 10/01/2024 tại bản Xá Nhè, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an xã R, huyện T bắt quả tang bị cáo đang cất giấu trái phép 01 (một) gói Heroine có khối lượng 5,59 gam, 03 (ba) gói nhựa thuốc phiện có tổng khối lượng 50,7 gam và hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2024 bị cáo đã dùng móng tay cấu lấy gói Heroine một ít cho một người đàn ông dân tộc Thái, không biết họ, tên, địa chỉ nhưng không thu tiền. Bị cáo không thừa nhận hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và nhận số tiền 50.000 đồng của người đàn ông dân tộc Thái, không biết họ, tên, địa chỉ vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2024. Bị cáo khai 01 gói Heroine khối lượng 5,59 gam và 03 gói nhựa thuốc phiện tổng khối lượng 50,7 gam bị cáo cất giấu trái phép để sử dụng không nhằm mục đích bán thu lợi. Do quá trình lấy lời khai, hỏi cung tại Cơ quan cảnh sát điều tra bị cáo bị cán bộ Điều tra ép cung nên mới khai nhận cất giấu ma túy nhằm mục đích bán và nhận số tiền 50.000 đồng của người đàn ông dân tộc Thái vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2024.

Cáo trạng số: 56/CT-VKSTG ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Sùng A P về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Sùng A P và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Sùng A P từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 5,3 gam Heroine và 32,61 gam nhựa thuốc phiện còn lại, 03 (ba) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A P.

Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy, bị cáo khai số Heroine và nhựa thuốc phiện bị cáo cất giấu trái phép chỉ nhằm mục đích sử dụng. Do bị ép cung nên mới khai nhận là bán và nhận số tiền 50.000 đồng của một người đàn ông dân tộc T2 không biết họ, tên, địa chỉ vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự chuyển tội danh xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cân nhắc về điều kiện, tính chất mức độ, hành vi, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không phạt bổ sung bằng tiền, miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với các nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo chỉ không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy, không có ý kiến bổ sung vào lời bào chữa, bị cáo không đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, tại bản X, xã R, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Sùng A P bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 5,59 (năm phẩy năm mươi chín) gam Heroine và 50,7 (năm mươi phẩy bảy) gam nhựa thuốc phiện. Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử thấy về hành vi bị cáo thừa nhận hồi 09 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 bị cáo đã dùng móng tay cấu lấy gói Heroine một ít cho một người đàn ông dân tộc Thái, không biết họ tên địa chỉ nhưng bị cáo khai không thu tiền của người này. Bị cáo cũng khẳng định lời khai ban đầu hồi 18 giờ 20 phút ngày 10/01/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã R, huyện T có người phiên dịch, người chứng kiến, bị cáo thừa nhận không bị ép cung, lời khai hoàn toàn tự nguyện. Lời khai này bị cáo đã khai nhận “mục đích mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời (BL 45)” và phù hợp các lời khai tại giai đoạn điều tra. Như vậy Hội đồng xét xử xác định việc bị cáo cất giấu trái phép 5,59 (năm phẩy năm mươi chín) gam Heroine và 50,7 (năm mươi phẩy bảy) gam nhựa thuốc phiện nhằm mục đích sử dụng và bán thu lợi. Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy và cho rằng giai đoạn điều tra bị cáo bị ép cung nên mới khai nhận cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán là không có căn cứ, thể hiện bị cáo không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thể hiện tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng H và nhựa thuốc phiện bị thu giữ, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng và bán thu lợi thì bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 23,7% (dưới 100%) nên bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;”

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm minh nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội lần này, bị cáo chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội rất nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất mức độ, hành vi, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy về hành vi bị cáo thừa nhận hồi 09 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 đã dùng móng tay cấu lấy gói Heroine một ít cho một người đàn ông dân tộc Thái, không biết họ tên địa chỉ, bị cáo khai không thu tiền của người này. Bị cáo cũng khẳng định lời khai ban đầu hồi 18 giờ 20 phút ngày 10/01/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã R, huyện T có người phiên dịch, người làm chứng kiến, bị cáo thừa nhận không bị ép cung, lời khai hoàn toàn tự nguyện. Lời khai này bị cáo đã khai nhận “mục đích mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời (BL 45)” và các lời khai trong giai đoạn điều tra điều phù hợp với lời khai ban đầu của bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị cáo không thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, vì vậy đề nghị của người bào chữa là chưa phù hợp, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc hộ nghèo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 5,3 gam heroine và 32,61 gam nhựa thuốc phiện (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 03 (ba) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội; 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[8] Án phí: Bị cáo Sùng A P là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cá nhân thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A P.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Các vấn đề khác:

- Đối với người phụ nữ không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo vào cuối tháng 12 năm 2023 và người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể đã mua ma túy của bị cáo vào ngày 10/01/2024. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai bị cán bộ điều tra ép cung, tuy nhiên ngoài lời khai, bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị cáo bị ép cung. Hội đồng xét xử xét thấy các biên bản hỏi cung trong hồ sơ vụ án tại các bút lục 48, 49, 50, 51, 52, 53 được thực hiện đúng quy định tại Điều 178, 183, 184 của Bộ luật Tố tụng hình sự và có Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
  2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • * Tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa M1: 5,3 (năm phẩy ba) gam Heroine và M2: 2,45 gam, M3: 3,46 gam, M4: 26,7 gam đều là nhựa thuốc phiện.
    • - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 03 (ba) mảnh nilon màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Bị cáo Sùng A P được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo Sùng A P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/5/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Công an huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Giàng A Tằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sùng A P - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger