Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

1

Bản án số: 108/2024/HS-PT

Ngày 23 tháng 7 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trần Hoàng Vũ và ông Nguyễn Phước Hưng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên

Trong ngày 19 và 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Tú T, cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo T, H, C và N, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Tú T, sinh ngày 02/09/2004; nơi cư trú: Số E, tổ G, khóm N, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 6/12; cha tên Trần Văn T1 và mẹ tên Trần Thị C1 (bị cáo cùng vụ án); anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo Trần Tú T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2023 (có mặt).

  2. Trần Thanh H1, sinh ngày 09/09/1967; nơi cư trú: Tổ G, khóm M, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; cha tên Trần Văn T2; mẹ tên Trương Thị Tuyết M; có vợ Trịnh Thị Ngọc G, có 04 người con. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo Trần Thanh H1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2023 (có mặt)

2

  1. Trần Thị C1, sinh ngày 17/05/1986; nơi cư trú: Số E, tổ G, khóm N, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 7/12; cha tên Trần Thanh H1 (bị cáo cùng vụ án); mẹ tên Trịnh Thị Ngọc G (bị cáo cùng vụ án); chồng tên Trần Văn T1; bị cáo có 03 người con. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo Trần Thị C1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2023 (có mặt).

  2. Trần Thị N1, sinh ngày 09/04/1988; nơi ở hiện nay: Tổ G, khóm M, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; cha tên Trần Thanh H1 (bị cáo cùng vụ án), mẹ tên Trịnh Thị Ngọc G (bị cáo cùng vụ án); chồng tên Huỳnh Văn Đ; bị cáo có 03 người con. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo Trần Thị N1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2023 (có mặt).

- Người bị hại

  1. Anh Chau Kim S, sinh năm 1985, nơi cư trú: tổ A, khóm M, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Anh Nguyễn Chí H2, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Anh Ngô Tuấn H3, sinh năm 2002, nơi cư trú: tổ D, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Ngô Thanh B, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
  2. Trần Thị V, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm M, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  3. Trần Thị Trang Bích L, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, khóm M, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
  4. Trương Bích T3, sinh năm 1967, nơi cư trú: tổ C, khóm N, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  5. Ông Phan Văn Q, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm N, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);

- Người làm chứng: Bà Phan Thị Kim G1, sinh năm 1987 (vắng mặt); Ông Trần Văn T1, sinh năm 1985 (có mặt); Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1985; Bà Mai Ngọc D, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Do có kháng cáo của các bị cáo T, H3, C1 và N1; trong vụ án này còn có bị cáo G không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

3

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/11/2022, anh Ngô Thanh B-Phó Trưởng Công an xã N, huyện T (nay là phường N, thị xã T) phân công các anh Nguyễn Chí H2 - Phó Công an xã trực lãnh đạo, anh Chau Kim S - cán bộ Công an xã trực ban và anh Ngô Tuấn H3 - trực đảm bảo an ninh trật tự cơ sở. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 26/11/2022, anh S nhận được tố giác qua điện thoại của bà Phan Thị Kim G1, có một vụ việc gây mất an ninh trật tự tại khu vực chợ N3 thuộc tổ C, ấp V, xã N, huyện T (nay là khóm V, phường N, thị xã T). Sau khi tiếp nhận tin báo, anh S báo cáo sự việc cho anh H2, nên anh H2 phân anh S và anh Tuấn H3 mặc trang phục Công an đến địa điểm trên giải quyết vụ việc.

Khi anh S, anh Tuấn H3 đến trước nhà bà G1, thấy Trịnh Thị Ngọc G, Trần Thị C1, Trần Thị N1Trần Thị V có hành vi la lớn tiếng đòi nợ bà G1, thì anh S hỏi và giải thích “Thiếu nợ thì ra Tòa giải quyết, lớn tiếng gây mất an ninh trật tự thì sẽ mời về trụ sở Cơ quan Công an làm việc”, nhưng G, V, C1N1 không nghe mà dùng tay chỉ vào mặt anh S, rồi C1 nhặt 01 cục đá dưới đường ném vào nhà bà G1, thì anh S giữ tay C1 lại, Trần Tú T (con ruột của C1) thấy vậy liền mở cốp yên xe mô tô biển số 67F1-208.75 lấy 01 cây cờ lê dài khoảng 20cm xông đến tấn công anh S, anh S buông C1 ra rồi khống chế vật nhau với T té xuống đường, T cầm cây cờ lê trên tay trái đánh 02 cái trúng vào lưng anh S gây thương tích, còn C1, VN1 cũng chạy lại dùng tay lôi kéo anh S, để anh S không khống chế được T. Anh Tuấn H3 chạy đến hỗ trợ anh S, bị G dùng tay trái nắm kéo áo lại làm đứt nút áo, tay phải G cầm nón bảo hiểm đánh 02 cái trúng vào đầu của anh S nhưng không gây thương tích, anh S khống chế lấy được cây cờ lê của T, thì T đứng dậy bỏ đi.

Lúc này, C1 dùng tay đánh vào vai anh S 02 cái và nói “mày nhớ mày đánh con tao nghe”, V nhìn thấy anh S lấy được cây cờ lê, nên V giằng co giật lấy cây cờ lê trên tay anh S bỏ chạy. Giàu, C1N1 tiếp tục dùng tay chỉ vào mặt và la chửi xúc phạm anh S và anh Tuấn H3, rồi N1 giật lấy nón bảo hiểm của bà Trần Thị Trang Bích L (cô ruột của N1) đứng cách N1 khoảng 0.5m đánh trúng vào mặt anh T4 H3 01 cái nhưng không gây thương tích, anh S liền khống chế giữ tay N1 lại, thì GC1 dùng tay lôi kéo anh S, C1 còn dùng tay đánh vào vai anh S 02 cái để anh S không giữ được N1. Cùng lúc này, T xông đến dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu anh S, anh S đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay trái gây thương tích, anh H2 (không mặc trang phục Công an) thấy vậy liền chạy đến hỗ trợ giữ T lại, thì anh H2 bị Trần Thanh H1 dùng nón bảo hiểm đánh từ phía sau trúng vào đầu, rồi H1 tiếp tục cầm nón bảo hiểm đánh tiếp 01 cái nữa, anh H2 đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào mu bàn tay trái gây thương tích, anh T4 H1 chạy đến hỗ trợ anh H2 cũng bị T dùng tay phải nắm vai anh Tuấn H3 kéo lại, rồi T cầm nón bảo hiểm bằng tay trái đánh trúng vào mặt anh T4 H3 02 cái, làm anh Tuấn H3 té xuống đất gây thương tích.

Sau đó, được mọi người can ngăn thì T, H3, G, C1N1 bỏ đi về nhà, còn anh H2, anh S và anh Tuấn H3 được đưa đi điều trị thương tích. Qua sự việc trên,

4

anh H2, anh S và anh Tuấn H3 yêu cầu xử lý hình sự đối với người gây thương tích và cản trở công vụ, không yêu cầu bồi thường.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 653/2022/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Chau Kim S, kết luận như sau:

  • Sưng nề gò má phải, không tồn tại thương tích: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • 02 (hai) vết xây xát cạnh lưng trái:
    • Vết 01: Kích thước (01 x 0.2)cm: Thương tích sẽ mất sau 07 ngày, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
    • Vết 02: Kích thước (0.4 x 0.3)cm: Thương tích sẽ để lại vết biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • 03 (ba) vết xây xát mặt sau khuỷu tay trái:
    • Vết 01: Kích thước (1.5 x 01)cm: Thương tích sẽ để lại sẹo, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.
    • Vết 02: Kích thước (1.5 x 0.7)cm: Thương tích sẽ để lại vết biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.
    • Vết 03: Kích thước (0.7 x 0.4)cm: Thương tích sẽ mất sau 07 ngày, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00 %, cơ chế hình thành thương tích do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 03%.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 654/22/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Ngô Tuấn H3, kết luận như sau:

  • Sưng nề tay phải, không tồn tại thương tích: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • Vết ửng đỏ trán trái, không tồn tại thương tích: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • Xây xát dạng mảng ngực phải, kích thước (3.5 x 01)cm: Thương tích sẽ để lại vết biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • Xây xát dạng mảng sau khuỷu tay phải, kích thước (2.5 x 02)cm: Thương tích sẽ để lại sẹo, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 02%.

5

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 655/22/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Chí H2, kết luận như sau:

  • Sưng nề vùng chẩm, không tồn tại thương tích: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 00%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
  • Xây xát dạng mảng mặt lưng bàn tay trái, kích thước (0.5 x 0.5)cm: Thương tích sẽ để lại vết biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 01%.

Căn cứ Kết luận giám định số 05/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 06/02/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:

Trích xuất 76 ảnh từ dữ liệu thư mục “Trích xuất Camera lip ngắn” và 01 tập tin video 6253123327403525336.mp4 lưu trữ trong USB (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định.

Tập tin video 8196932552699428530.mp4: không trích xuất hình ảnh vì không phải là file copy từ dữ liệu gốc mà quay lại từ ứng dụng trên thiết bị khác.

Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa dữ liệu video trong thư mục “Trích xuất Camera lip ngắn” và tập tin video “6253123327403525336.mp4” lưu trữ trong USB gửi giám định.

Sao chép dữ liệu video lưu trữ trong USB gửi giám định qua đĩa DVD có dung lượng 254MB.

Kèm theo phụ lục gồm 25 trang A4.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T thu giữ:

  • Thu giữ của Trần Thị N1: 01 áo vải màu hồng và 01 quần vải ngắn màu hồng.
  • Thu giữ của Trần Thị C1: 01 áo vải ngắn tay màu đen, 01 quần vải dài màu hồng và 01 xe mô tô biển số 67F1-120.47.
  • Thu giữ của Trần Thị Trang Bích L: 01 nón bảo hiểm màu đỏ, 01 áo khoác thun dài tay màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ và 01 quần thun ngắn màu đỏ.
  • Thu giữ của Trịnh Thị Ngọc G: 01 áo khoác thun dài tay màu tím, 01 áo thun ngắn tay màu đen và 01 quần thun dài màu đen.
  • Thu giữ của Trần Tú T: 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 áo thun ngắn tay màu đen, 01 quần vải dài màu đen và 01 xe mô tô biển số 67F1-208.75; 5.000.000 đồng.
  • Thu giữ của Trần Thanh H1: 01 áo thun ngắn tay màu xanh và 01 quần kaki dài màu vàng; 5.000.000 đồng.

6

Cáo trạng số 60/CT-VKSTB.HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị can Trần Tú T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố bị can Trần Thanh H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị can Trịnh Thị Ngọc G, Trần Thị C1Trần Thị N1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2023/HS-ST ngày 27/12/2023, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Tú T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm a, i, k khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Tú T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

  2. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

    Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh H1: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

  3. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị C1Trần Thị N1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị C1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị N1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt bị cáo Trịnh Thị Ngọc G 09 tháng tù, cho hưởng án treo” về tội “Chống người thi hành công vụ”; xử lý vật chứng, tính án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/01/2024, bị cáo Trần Tú T, Trần Thanh H1, Trần Thị C1Trần Thị N1, kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo T, H1, C1N1 vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa cấp sơ thẩm, bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt; còn bị cáo H1, C1, N1 xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:

7

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tú T; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh H1, Trần Thị C1, Trần Thị N1 và sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt.

  • Áp dụng điểm a, i, k khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Tú T 01 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thanh H1 từ 06 tháng đến 08 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị C1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị N1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Giao bị cáo Trần Thị C1 và bị cáo Trần Thị N1 cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định.

Các bị cáo T, H1, C1N1 không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát;

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thật sự đã hối hận về việc làm của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, riêng bị cáo H1, C1, N1 xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức:

  • Đơn kháng cáo của các bị cáo T, H1, C1, N1 làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

8

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo T, H1, C1N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 26/11/2022, anh Chau Kim S, Công an viên là người trực ban cùng ông Ngô Tuấn H3, Công an viên trực đảm bảo an ninh trật tự cơ sở được ông Nguyễn Chí H2, Phó Trưởng Công an xã N (nay là phường N) trực lãnh đạo phân công đến khu vực chợ N3 để giải quyết tin báo về an ninh, trật tự. Khi anh S và anh Tuấn H3 đến trước nhà bà G1 tại chợ N3 thuộc tổ C, ấp V, xã N, huyện T (nay là khóm V, phường N, thị xã T), tỉnh An Giang, thì thấy Trịnh Thị Ngọc G, Trần Thị C1, Trần Thị N1Trần Thị V có hành vi la lớn tiếng đòi nợ bà G1, mặc dù được anh S, anh Tuấn H3 giải tích nhưng G, V, C1N1 không nghe mà dùng tay chỉ vào mặt anh S. Trong lúc, anh S, anh H3 đang thi hành công vụ thì bị cáo Trần Tú T có hành vi dùng cờ lê, nón bảo hiểm đánh gây thương tích cho anh Chau Kim S, với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03% và dùng nón bảo hiểm đánh anh Ngô Tuấn H3 gây thương tích, với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 02% và bị cáo Trần Thanh H1 có hành vi dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào mu bàn tay trái của anh Nguyễn Chí H2 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.

[3.1] Đối với bị cáo T đã có hành vi dùng cờ lê, nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm, không cần biết nguyên nhân sự việc thế nào đã gây thương tích anh S, anh Tuấn H3 là những người đang thi hành công vụ là thể hiện tính chất côn đồ và phạm tội đối với người đang thi hành công vụ; vì vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt theo điểm a, i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Đối với bị cáo H3 khi đến nơi sự việc xảy ra và nói với anh S sự việc nên bỏ qua đi, nhưng khi thấy con gái mình là N1 đang giằng co, nắm tay giữ lại với các anh Công an, trong lúc nóng giận tức thời, thiếu kiềm chế bản thân, bị cáo H3 đã dùng nón bảo hiểm tấn công anh H2, trong khi anh H2 cũng đang làm nhiệm vụ nhưng không mặc sắc phục Công an; bị hại anh Chau Kim S tại phiên tòa cũng thừa nhận bị cáo H3 có nói chuyện với anh Kim S trước khi dùng nón bảo hiểm đánh anh H2; hành vi dùng nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh H2, nên hành vi của bị cáo H3 “không mang tính chất côn đồ”, nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không đúng pháp luật.

[3.3] Đối với các bị cáo C1, N1 có hành vi dùng lời lẽ xúc phạm và dùng tay đánh vào vai và tay của anh Chau Kim S; bị cáo N1 có hành vi dùng lời lẽ xúc phạm, dùng nón bảo hiểm đánh vào mặt anh Ngô Tuấn H3; trong khi anh S,

9

anh Tuấn H3 đang mặc sắc phục Công an nhân dân, được phân công làm nhiệm vụ giải quyết vụ việc. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo và cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo T, H3 về tội “Cố ý gây thương tích” và bị cáo C1, N1 về tội “Chống người thi hành công vụ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc xâm phạm đến sức khoẻ của người khác và dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ trái pháp luật. Hành vi được thực hiện với lỗi cố ý; trong vụ án này, giữa bị hại với các bị cáo không có mâu thuẫn nhau, hành vi của các bị cáo là xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm trật tự quản lý hành chính, đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng và bất bình trong nhân dân, các bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, cần xử lý nghiêm thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh tội phạm chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, vai trò của từng bị cáo thì thấy;

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cấp sơ xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Đối với bị cáo N1 lúc phạm tội đang mang thai, được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng là thiếu sót. Còn Bị cáo T được bị hại anh Kim S xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo T, H3, C1N1 có quan hệ huyết thống trong cùng gia đình, nhất thời phạm tội; bị cáo H3 là ông N2 của bị cáo T, là Cha của bị cáo C1, N1, còn bị cáo C1 là Mẹ của bị cáo T.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt cho 4 bị cáo có tù thời hạn và phải cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội là có phần nghiêm khắc.

10

Khi quyết định hình phạt nhận thấy: đây là vụ án mà người phạm tội nhất thời phạm tội do bức xúc việc đòi nợ, mà cả gia đình đều phạm tội, tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, thương tích gây ra cho các bị hại không lớn, các bị cáo đều là người thân trong gia đình, cùng huyết thống ba thế hệ trong cùng vụ án; các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; đặc biệt trong cùng một vụ án, có đến năm bị cáo là T, H3, G, C1N1 bị điều tra, truy tố, xét xử (Bị cáo Trịnh Thị Ngọc G bị xử 9 tháng tù, cho hưởng án treo, không kháng cáo).

Xét thấy, mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Trần Tú T là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, được Hội đồng xét xử giữ y. Mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo H3 mà cấp sơ thẩm xét xử và Viện kiểm sát đề nghị là có phần nặng so với hành vi phạm tội gây ra; mức hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo C1, bị cáo N1 chưa cân nhắc đến các thành viên trong cùng một gia đình bị điều tra, truy tố, xét xử trong cùng vụ án; bị cáo N1 hiện còn nuôi con nhỏ.

Nếu tiếp tục quyết định hình phạt tù cách ly các bị cáo H3, C1, N1 khỏi xã hội một thời gian là không cần thiết, nếu không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Mặt khác, bị cáo H3, C1 và bị cáo N1 hưởng án treo cũng không vi phạm tinh thần của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó cần tạo điều kiện cho bị cáo H3, C1 và bị cáo N1 được cải tạo tại địa phương, đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo C1, N1 hưởng án treo là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận; còn bị cáo H3 mà Viện kiểm sát đề nghị là chưa đồng quan điểm với Hội đồng xét xử nên không được chấp.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo H3, C1, N1 nên các bị cáo không phải chịu tiền án phí. Riêng bị cáo T không được chấp nhận kháng cáo phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

11

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tú T về xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H1, Trần Thị C1Trần Thị N1 về việc xin hưởng án treo.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Tú T, bị cáo Trần Thanh H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm a, i, k khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tú T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh H1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực.

  2. Tuyên bố bị cáo Trần Thị C1, bị cáo Trần Thị N1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị C1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s, n khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị N1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Giao các bị cáo Trần Thanh H1, Trần Thị C1, bị cáo Trần Thị N1 cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tú T phải chịu 200.000đ; các bị cáo Trần Thanh H1, bị cáo Trần Thị C1, bị cáo Trần Thị N1 không phải chịu tiền án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

(Đã giải thích chế độ cho hưởng án treo).

12

Nơi nhận:

  • TAND tối cao;
  • TAND cấp cao Tp Hồ Chí Minh;
  • VKS ND tỉnh An Giang;
  • Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • TAND thị xã Tịnh Biên;
  • Công an thị xã Tịnh Biên;
  • VKS thị xã Tịnh Biên;
  • Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên;
  • Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu: hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 108/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích và Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Tú T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger