Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 108/2025/HSST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Kim Hiền

Ông Trần Đức Lưu

Thư ký Tòa án: Ông Hoàng Đức Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2025/TLST-HS ngày 16/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS ngày 16/6/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn T; Sinh năm: 1983; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: A Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: B G, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội đến năm 2001; Hiện lang thang không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ngọc Y; Vợ: Trịnh Minh T1; Con: 02 con: con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: 03 tiền sự (đã hết thời hiệu); Tiền án: 05 tiền án; Nhân thân: Bản án số: 272/2013/HSST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày: 11/12/2015 (đã xóa án tích); Phạm tội ngày 16/7/2017 đến ngày 29/3/2018, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản bản án số 73/2018/HS-ST;

Phạm tội ngày 16/01/2018 đến ngày 09/5/2018, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản bản án số 59/2018/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án 73/2018/HSST ngày 29/3/2018, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 27 tháng tù, ra trại ngày 18/01/2020 (đã xoá án tích); Phạm tội ngày 01/11/2023 đến ngày 25/01/2024, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (án đã có hiệu lực pháp luật) bản án số 14/2024/HSST; phạm tội ngày 17/12/2022 đến ngày 27/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý Bản án số 179/2024/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án số 14/2024/HSST ngày 25/01/2024, TAND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm tù (án đã có hiệu lực pháp luật); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023 theo Lệnh tạm giam của Công an quận H; Hiện đang giam tại Trại tạm giam số 1 của Công an Thành phố H; Có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn Thọ Sơn L; sinh năm 1998; Địa chỉ: Số nhà H, ngõ B Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm 1985; Địa chỉ: Số H ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 14/4/2023, Nguyễn T đi bộ một mình lang thang trên địa bàn phường L, quận B, thành phố Hà Nội, tìm xe máy sơ hở để trộm cắp. Khi đến số nhà H ngõ B Đ, quận B, thành phố Hà Nội, T phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Kawasaki mang BKS: 29A1-020.78 màu đen của anh Nguyễn Thọ Sơn L (Sinh năm: 1998) đang dựng sát tường trước nhà, không có ai trông giữ. T liền dùng tay lắc đầu xe phá khóa cổ xe rồi dắt bộ đi tìm nơi cất giấu để chờ đem đi tiêu thụ. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, T dắt chiếc xe máy này đến bãi trông giữ xe tại Tập thể X2 - Bộ tư lệnh L P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, gặp bảo vệ là ông Thái Văn T2 (Sinh năm: 1964, HKTT: P504A-C2X2 Bộ tư lệnh L, B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội). T nói với ông T2 người trông xe là chiếc xe máy trên bị hỏng nên muốn gửi xe trong bãi và được ông T2 đồng ý.

Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T đến nhà số G N, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội thuê người lái xe ba gác là anh Nguyễn Văn H1 (SN: 1978, HKTT: số G N, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội) chở chiếc xe máy trộm cắp được hết 200.000 đồng đến khu vực ga T. Anh H1 đồng ý và chở T đến bãi trông giữ xe. T trả tiền trông giữ xe cho ông T2 rồi dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Kawasaki cho lên thùng xe ba gác dưới sự hỗ trợ của anh H1 và ông T2. Sau đó, anh H1 điều khiến xe chở T cùng chiếc xe máy đến cửa hàng sửa chữa xe máy tại địa chỉ số H ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. T gặp chủ cửa hàng là anh Nguyễn Văn Q (Sinh năm: 1985, HKTT: Đ, thôn L, xã Q, huyện C, thành phố Hà Nội), nói xe vừa mua thanh lý, muốn sửa để nổ được máy, thay dầu. Sau khi anh H1 và anh Q hỗ trợ đưa chiếc xe máy vào cửa hàng, T trả tiền công 250.000 đồng cho anh H1 rồi anh H1 rời đi. Sau đó, anh Q thay dầu, tháo đầu chiếc xe máy để kiểm tra, sửa chữa. Sửa xong, T lấy lý do đi thử rồi ngồi lên xe phóng đi, không quay trở lại. T điều khiển chiếc xe trộm cắp được đi tìm nơi tiêu thụ, tìm được một người đàn ông thu mua xe máy ở vỉa hè (không xác định được địa điểm, thông tin nhân thân) và bán chiếc xe trên với giá 4.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án chưa thu giữ được:

  • 01 chiếc xe mo-to nhãn hiệu Kawasaki Pulsar 200NS 2016 màu đen, mang BKS: 29A1-020.78, số khung: 6FZ3ECA 72902, số máy: JLZCEA70835 (thu hồi được một phần tài sản là bộ phận đầu đèn của xe).

* Vật chứng vụ án thu giữ được:

  • Thu giữ của ông Thái Văn T2: 01 đoạn video clip được trích xuất tại nhà xe X2 Tập thể Bộ tư lệnh lăng, B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, ghi lại hình ảnh Nguyễn T đến gửi xe lúc 06 giờ 32 phút và lấy xe lúc 18 giờ 59 phút.
  • Thu giữ của anh Nguyễn Văn Q: 02 đoạn video clip được trích xuất từ camera gắn tại quán S ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội, ghi lại hình ảnh Nguyễn T đến sửa xe tại cửa hàng anh Q; 01 đầu đèn của chiếc xe máy Kawasaki.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 26/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự - UBND quận B, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Kawasaki Pulsar 200 NS màu đen, BKS: 29A1-020.78, số khung: 6FZ3ECA72902, số máy: JLZCEA70835 trị giá 25.000.000 đồng.

Đối với người đàn ông mua chiếc xe máy của T, quá trình điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Thái Văn T2, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn Q, đều không biết chiếc xe Kawasaki là tài sản trộm cắp, anh Q chưa được T gửi tiền sửa xe nhưng số tiền không nhiều nên anh Q không có yêu cầu đề nghị gì. Do vậy, Cơ quan không đề cập xử lý đối với ông T2, anh H1 và anh Q.

Về bồi thường dân sự : Người bị hại là anh Nguyễn Thọ Sơn L chiếc xe máy bị mất trị giá 25.000.000 đồng chưa thu hồi được, sau khi nhận bản cáo trạng bị cáo đã tác động gia đình bồi thương đủ theo yêu cầu của người bị hại.

Nguyễn T đang chấp hành án tại Trại giam T4, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hiện T đang được trích xuất về Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H để phục vụ công tác điều tra.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 10/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 14/4/2023, tại hiên nhà số H ngõ B Đ phường L, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Kawasaki màu đen BKS: 29A1-020.78 của anh Nguyễn Thọ Sơn L, trị giá 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng chẵn). Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù và tổng hợp hình phạt 10 năm tù tại Bản án số 179/2024/HSST ngày 27/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu 01 video clip được trích xuất tại nhà xe X2 Tập thể Bộ tư lệnh lăng, B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, ghi lại hình ảnh Nguyễn T đến gửi xe lúc 06 giờ 32 phút và lấy xe lúc 18 giờ 59 phút thu giữ của ông Thái Văn T2 và 02 video clip được trích xuất từ camera gắn tại quán S ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội, ghi lại hình ảnh Nguyễn T đến sửa xe tại cửa hàng anh Q thu giữ của anh Nguyễn Văn Q để lưu giữ làm tài liệu trong hồ sơ vụ án. (Tại bút lục số 202A).- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ phận đầu đèn của xe mo-to nhãn hiệu Kawasaki Pulsar 200NS 2016 màu đen.- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thọ Sơn L đã nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo T bồi thường trả lại anh Q số tiền 250.000 đồng tiền công anh Q thay dầu và sửa xe, anh Q không có đề nghị gì khác nên không xem xét, giải quyết.Tại phiên tòa Nguyễn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt trước khi Hội đồng xét xử nghị án.NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Nguyễn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 14/4/2023, tại hiên nhà số H ngõ B Đ phường L, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn T có hành vi phá khoá cổ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Kawasaki BKS: 29A1-020.78 để trộm cắp của anh Nguyễn Thọ Sơn L, trị giá 25.000.000 đồng. Hành vi trên đây của Nguyễn T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm pháp luật, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại để bán lấy tiền ăn tiêu. Hành vi trên đây của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Xét đến nhân thân của bị cáo: Là một công dân có nhân thân xấu, có nhiều tiền án tiền sự trong đó các tiền án xét xử năm 2013, 2015, 2018 đều đã hết thời hiệu. Bản án ngày 27/3/2024 hành vi phạm tội trước xử sau, bản án ngày 25/01/2024 hành vi phạm tội sau xử trước nên không bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Lần này xét xử hành vị phạm tội khi chưa có 2 bản án ngày 27/3/2024 và 25/01/2024 nên cũng không coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. Song các bản án trên đều đã có hiệu lực pháp luật nên áp dụng điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của các bản án mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động tới gia đình để bồi thường đầy đủ cho bị hại khắc phục hậu quả của vụ án, tại đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên tòa áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[6] Trách nhiệm bồi thường dân sự:

  • Anh Nguyễn Thọ Sơn L đã nhận đủ số tiền do bị cáo đã tác động gia đình bồi thường là 25.000.000 đồng, anh L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 250.000 đồng là tiền công anh Q thay dầu và sửa xe nên không xem xét, giải quyết.
  • Đối với 01 (một) bộ đầu đèn của xe mo-to nhãn hiệu Kawasaki Pulsar 200NS 2016 màu đen do anh Nguyễn Văn Q giao nộp để trả lại cho người bị hại là anh Nguyễn Thọ Sơn L nhưng anh L không nhận lại vì đầu xe đã hỏng và đã nhận đủ tiền bồi thường của bị cáo nên tịch thu tiêu huỷ bộ đầu đèn trên.
  • Cơ quan điều tra thu giữ 01 USB có chứa đoạn video được trích xuất tại nhà xe X Tập thể Bộ tư lệnh lăng, B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội và video được trích xuất từ camera gắn tại quán S ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội để lưu giữ làm tài liệu trong hồ sơ vụ án. (Tại bút lục số 202A).

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào: Khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt: Nguyễn T 02 (hai) năm tù và phải cộng 10 (mười) năm tù tại bản án số 179/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2023. - Căn cứ điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự; điều 47 Bộ luật hình sự.- Xử lý vật chứng: - Tịch thu 01 USB có chứa đoạn video được trích xuất tại nhà xe X Tập thể Bộ tư lệnh lăng, B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội và video được trích xuất từ camera gắn tại quán S ngõ H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội để lưu giữ làm tài liệu trong hồ sơ vụ án. (Tại bút lục số 202A). - Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) bộ phận đầu đèn của xe mo-to nhãn hiệu Kawasaki Pulsar 200NS 2016 màu đen. (theo biên bản giao nhận vật chứng số 152 ngày 11/6/2025 tại cơ quan thi hành án Dân sự Quận B.)- Căn cứ điều 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

  • Áp dụng điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình.
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.
  • - Chi cục thi hành án Dân sự quận Ba Đình.
  • - UBND phường Cát Linh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội.
  • - Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Ngô Thị Vân.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/HSST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 108/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger