|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 108/2025/HSST Ngày: 24/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thụ;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Kim Tuyến;
2. Bà Phạm Thị Lan Anh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/HSST, ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/HS-QĐ ngày 12/6/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc Q1), sinh năm 1977 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm A, thôn N, xã T (H cũ), huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc S (đã chết) và bà Đinh Thị L (đã chết); Vợ: Đoàn Thị P; Có 02 con: Con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 28/8/1990, Công an quận H, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
- + Ngày 26/9/1991, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 252).
- + Ngày 09/7/1992, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 06 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 255).
- + Ngày 03/5/1994, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 253/HSST).
- + Ngày 08/4/1998, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 481/HSST).
- + Ngày 29/11/2001, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 42 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 155/HSST).
- + Ngày 28/9/2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 12 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 199/HSST).
D chỉ bản số 54 ngày 13/02/2025 lập tại Công an quận C;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025; Có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1995; HKTT: Khu T, xã Y, huyện C, Tỉnh Phú Thọ; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q là đối tượng không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 11/02/2025, Q đi lang thang quanh khu vực công viên C, khi đi đến gần hồ công viên thì phát hiện anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1995, nơi thường trú: xã Y, huyện C, Tỉnh Phú Thọ và bạn gái là chị Trần Minh T1, sinh năm 2003, Nơi thường trú: TDP Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội đang ngồi trên ghế đá hướng về hồ nói chuyện. Anh T để chiếc điện thoại IPhone Xs Max, màu đen bên cạnh chỗ ngồi tay phải. Q đi tới lấy chiếc điện thoại trên rồi cất vào túi quần bên phải và bỏ đi được khoảng 03-04 mét thì bị anh T phát hiện và tri hô, bắt giữ Q cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại IPhone Xs Max 64GB, màu đen đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 điện thoại Iphone XS max màu đen 64Gb (đã qua sử dụng từ năm 2024) trị giá 3.920.000 đồng.
Ngày 12/5/2025, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 21184/QĐ-VPCQCSĐT trả lại cho anh Nguyễn Quốc T chiếc điện thoại nêu trên. Anh T đề nghị xử lý Nguyễn Văn Q theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 99/CT-VKS-CG ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định. Về dân sự: Không. Về xử lý vật chứng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, nhân chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Vào hồi 19 giờ 45 phút, ngày 11/02/2025 tại Công viên C, D, Cầu G, Hà Nội, Nguyễn Văn Q có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone XS max màu đen 64Gb, trị giá 3.920.000 đồng của anh Nguyễn Quốc T. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá về tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn Thủ đô. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 1990 đến nay bị cáo đã 6 lần vi phạm về tội cùng loại bị Tòa án đưa ra xét xử, 01 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích. Mặc dù các tiền án, tiền sự đều đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã cải tạo tại trại giam một thời gian dài, bị cáo không lấy đó làm bài học, khi phát hiện có sơ hở bị cáo ngay lập tức thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX cũng xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã thu hồi và trao trả cho bị hại nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Vì vậy, áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt trong khung hình phạt là phù hợp.
[4] Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc Q1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Ngọc Q1) 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2025.
Về dân sự, vật chứng: Không.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thụ |
Bản án số 108/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 108/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về tội trộm cắp tài sản
