Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG


Bản án số: 108/2025/HS-ST
Ngày : 25-11-2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Phạm Đức Minh
  • + Bà Lê Thị Sáu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2025/TLST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Đ; tên gọi khác: B; sinh năm 2000 tại tỉnh L. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 17/2 đường Hà Huy T, Phường 2 Bảo L tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1965 và bà Vũ Quỳnh T sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • + Tại bản án số 22/2018/HS-ST ngày 20/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (nay là TAND khu vực 4- Lâm Đồng) xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Quyết định 08/QĐ-TA ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (nay là TAND khu vực 4- Lâm Đồng) áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Văn Đ, thời gian là 12 tháng.
  • + Ngày 20/9/2025 Trần Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (quyết định khởi tố vụ án hình sự số A5/QĐ-CSMT; quyết định khởi tố bị can số A264/QĐ-CSMT).

Bị cáo Trần Văn Đ bị tạm giữ từ ngày 13/9/2025, sau đó chuyển sang biện pháp ngăn chặn tạm giam trong vụ án “sử dụng trái phép chất ma túy” tại Phân trại tạm giam số 8- Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh Lâm Đồng.

2. Họ và tên: Nguyễn Xuân Phi L; tên gọi khác: L H; sinh năm 1990 tại tỉnh L. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 95/7/7 đường Phan Đăng L, Phường 1 Bảo L, tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Phường 1 Bảo L, tỉnh L.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Người bị hại: Bà Trương Thị P, sinh năm 1969 (có mặt). Địa chỉ: Số 1080 quốc lộ 20, tổ dân phố 2 Lộc C, Phường 3 Bảo L, tỉnh L.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1995 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Số 587 Trần P, phường B’L, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 28/5/2025, Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 49K1- 825.50 đến nhà Trần Công T để chơi thì gặp Nguyễn Xuân Phi L, sau đó L rủ Đ đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, Đ điều khiển xe mô tô trên chở L đi từ nhà của T đến khu vực hồ Mai T tại địa chỉ: tổ dân phố 2, phường 3 Bảo L, tỉnh L. Đ và L quan sát thấy ở đây có nhiều xe mô tô của người dân dựng ở lề đường. Đ chở L đi qua vị trí xe mô tô biển số 49AK- 109.00 của bà Trương Thị P thì thấy điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro màu trắng của chị P đang để ở cốp phía dưới tay lái bên trái của xe mô tô. Lúc này, Đ điều khiển xe quay lại lấy điện thoại trên rồi đưa cho L cầm. Sau khi trộm cắp được điện thoại của bà P, Đ điều khiển xe chở L đến cửa hàng Viễn Mobile ở địa chỉ số 587, đường Trần P, phường B’L, tỉnh L để bán cho anh Trần Quốc T. Sau khi kiểm tra điện thoại, anh T hỏi mật khẩu màn hình và tài khoản Icloud thì L nói điện thoại này của chị gái L cho nên không nhớ mật khẩu. Do vậy anh T chỉ mua lại với giá 2.300.000 đồng thì L và Đ đồng ý. Đ cầm số tiền trên và chia cho L 1.000.000 đồng, Đ 1.000.000 đồng, còn số tiền 300.000 đồng còn lại thì L và Đ sử dụng chung.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng kết luận: Trị giá tài sản tại thời điểm ngày 28/5/2025 của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei: 350060428837470 là 9.667.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Xuân Phi L thể hiện: Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, rủ nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài và mua ma túy. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn ĐNguyễn Xuân Phi L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Phi L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn Đ có nghĩa vụ trả cho anh Trần Quốc T số tiền 1.150.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy các vật dụng cá nhân của bị cáo Đ dùng khi phạm tội (áo khoác, mũ bảo hiểm, dép, quần dài).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Phi L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 4- Lâm Đồng;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 4- Lâm Đồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Bích Thủy
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 108/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Long 01 năm tù, xử phạt Đạt 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger