Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/HS-ST

Ngày: 18 – 6 – 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH

DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Lê Thị Nguyệt
  • Bà Phạm Thị Bé.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang - là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Phước S, sinh năm 1992 tại tỉnh An Giang; số CCCD [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 28/6/2022; nơi đăng ký thường trú: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành N (đã chết) và bà Lương Thị Kiêm H; vợ: Nguyễn Thị T và có 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2024 cho đến nay, có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ Phần D1; địa chỉ trụ sở: 4 đường X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật ông Lương Minh H1 – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Bạch K, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số nhà B đường V, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền số 667/GUQ-GHN2024), vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1986; nơi thường trú: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Trương Văn P, Đỗ Nguyễn Bảo N1, Đặng Như T1, Trần Công T2, bà Trần Thị H3, Trần Thị M, ông Lữ Thanh Đ, bà Huỳnh Thị T3, Nguyễn Thị Thu T4, Nguyễn Thị V, Phan Thị T5, Nguyễn Hồng V1, Trần Thị Lan P1, Nguyễn Thị M1, Trương Thị V2, Đặng Kim P2, Nguyễn Thị C, ông Phạm Quý T6, bà Nguyễn Thị T7, ông Phan Trung T8, bà Lê Thị M2, Lê Ngọc Mộng H4, Nguyễn Thị Mỹ D, ông Đỗ Thành P3, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/02/2024, Lê Phước S ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần D1 có trụ sở tại số D X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. S được phân công làm việc tại địa điểm kinh doanh số 26 Công ty Cổ phần D1 chi nhánh B, địa chỉ đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, nhiệm vụ nhân viên phát triển thị trường và giao hàng cho khách hàng rồi nhận tiền đưa lại về cho công ty. Cụ thể, hàng ngày vào khoảng 07 giờ 00 phút, S gặp ông Trương Văn P là nhân viên xử lý tại bưu cục nhận hàng và quét mã vạch QR của hàng hóa để cập nhật thông tin số hàng đã nhận vào hệ thống. Sau đó, S đi giao hàng cho khách hàng rồi nhận tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của S, các đơn hàng đã giao thành công S phải cập nhật trạng thái giao hàng lên ứng dụng tài xế M-PDS và giao nộp số tiền đã thu được của khách hàng về công ty cho ông P bằng hình thức đưa tiền mặt tại nơi làm việc có địa chỉ trên hoặc chuyển khoản trước 17 giờ trong ngày.

Ngày 25/02/2024, S đến bưu cục nhận 135 đơn hàng có quét mã QR với tổng số tiền là 74.212.574 đồng từ ông P để đi giao cho khách hàng. S đi giao được 100 đơn hàng cho 100 khách hàng với số tiền 67.208.745 đồng, còn 35 đơn hàng trả về cho công ty. Sau đó, S đã chiếm đoạt số tiền 67.208.745 đồng để tiêu xài cá nhân mà không giao về Công ty Cổ phần D1 Chi nhánh B rồi tự ý nghỉ việc, bỏ trốn. Đến ngày 28/6/2024, phía Công ty Cổ phần D1 Chi nhánh B làm đơn tố giác Lê Phước S có hành vi chiếm đoạt tài sản.

Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 67.208.745 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-TA ngày 16/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Lê Phước S về tội “Tham ô tài sản” theo Khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Phước S về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và áp dụng: Khoản 1 Điều 353; các Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Phước S từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động bồi thường hết thiệt hại nên không đề nghị xử lý.

Bị cáo Lê Phước S trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại đơn xin vắng mặt bị hại Công ty Cổ Phần D1 trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo và có đơn xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Kim H2 trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo, bị cáo đã nhờ bà bồi thường hết số tiền 67.208.745 đồng, không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường và không yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, nguyên đơn dân sự và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Phước S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 25/02/2024, tại địa chỉ khu phố B B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Lê Phước S có hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao hàng cho khách hàng đã chiếm đoạt số tiền 67.208.745 đồng của Công ty Cổ phần D1 Chi nhánh B thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Lê Phước S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Lê Phước S về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi tham ô tài sản là vi phạm pháp luật Hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tư lợi nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường hết thiệt hại cho nguyên đơn dân sự; đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó được xem xét áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Phước S mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù là phù hợp với tính chất hành vi của bị cáo, tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã tác động gia đình khắc phục hết thiệt hại và tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn xin vắng mặt nguyên đơn dân sự Ông Vũ Bạch K là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D1 hàng nhanh xác định đã nhận gia đình bị cáo đã bồi thường hết số tiền đã chiếm đoạt 67.208.745 đồng nên không còn yêu cầu gì khác, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Phước S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • + Khoản 1 Điều 353; các Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • + Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Phước S phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Phước S 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/11/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Phước S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 108/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 02 năm 09 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger