Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/HS-ST

Ngày: 17/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nga
  • Bà Nguyễn Thị Kim Phương
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình D - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HS ngày 21/5/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 13/2025/HSST-QĐ ngày 06/6/2025, đối với bị cáo:

Trương Tiến Thái S

tên gọi khác: không, sinh năm 2004 tại Đồng Nai; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ H, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Trương Văn D1, sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị Phi Y, sinh năm 1976; Vợ tên Trần Thị Minh H, sinh năm 2005 và có 01 người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2025 đến nay.

  • - Bị hại: anh Lê Ngọc T, sinh năm 1992. Nơi đăng ký hộ khẩu: tổ B, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: số C, đường T, là khu phố G, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Nguyễn Lê T1, sinh năm 2002. Nơi đăng ký hộ khẩu: tổ A, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Đường số D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
    2. Trần Thị Minh H, sinh năm 2005. Nơi đăng ký hộ khẩu: khu phố A, phường X (nay là khu phố G, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: tổ H, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
  • - Người làm chứng: Hoàng Trọng T2, sinh năm 2007. Địa chỉ: khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Tất cả đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Tiến Thái S và anh Nguyễn Lê T1 là bạn bè quen biết nhau. Vào ngày 29/9/2024, Trương Tiến Thái S và vợ là Trần Thị Minh H, sinh năm 2005, ngụ tại: tổ B, khu phố A, phường X, thành phố L cãi nhau thì anh T1 dùng điện thoại quay video lại rồi gửi cho người khác xem nên vợ chồng S tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, chị H yêu cầu ly hôn với S. Khoảng 17 giờ ngày 30/9/2024, S hẹn anh T1 đến quán nhậu Góc S, tại phường X, thành phố L để uống bia, nói chuyện về đoạn video. Tại đây, anh T1 nói sẽ gặp chị H để xin lỗi, hòa giải và đi về trước. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, anh T1 hẹn chị H đến quán nước Cô C, tại số A, H, khu phố G, phường X, thành phố L uống nước, nói chuyện; được khoảng 20 phút, anh T1 gọi điện thoại cho S đến quán nước Cô C để nói chuyện và giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Lo sợ bị S đánh nên anh T1 gọi điện thoại cho cậu ruột tên Lê Ngọc T đến, nhưng anh T không vào ngồi chung với anh T1 mà đứng đợi ở quán nước kế bên.

Sau khi thấy T1 gọi đến quán nước Cô C, S nhờ người bạn nhậu chung tên Hoàng Trọng T2 chở về nhà lấy 01 con dao bấm lưỡi dài khoảng 07cm, cán dài 10cm, bản rộng 02cm cất vào túi quần mang theo để phòng thân và nhờ anh T2 chở đến quán nước Cô C. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, S đến quán nước trên và ngồi nói chuyện với chị H và anh T1. Do bực tức, S dùng tay đấm 01 cái vào đầu anh T1 thì anh Lê Ngọc T đứng ở quán nước kế bên đi đến nhặt 01 khúc gỗ dài khoảng 07m, ngang 15cm, dày 01cm bên lề đường lao vào đánh S 01 cái trúng vào tay phải. S rút dao bấm trong túi quần ra đâm anh T 03 nhát trúng vào mu bàn tay phải, vùng lưng phải và phía sau khớp gối chân trái. Anh T làm rơi khúc gỗ xuống đất nên anh T1 đến nhặt lên đánh trúng lưng S 01 cái thì được chị H, anh T2 vào can ngăn, tất cả đi về nhà. Anh T được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu. Đến ngày 12/11/2024, anh T gửi đơn tố cáo đến Công an phường X, thành phố L yêu cầu xử lý hình sự đối với S.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 1921/CN-BV ngày 29/11/2024, Bệnh viện Đ xác định, anh Lê Ngọc T vào viện lúc 21 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, ra viện lúc 14 giờ ngày 09/10/2024, trình trạng thương tích lúc vào viện như sau:

  • Vết thương hở ở lưng bờ sắc kích thước: 03cm x 02cm lộ gân cơ, thám sát vết thương thấy vết thương sâu thấu phổi phải, rạch thêm 02cm thám sát thấy đứt bán phần cơ thang, cơ lưng rộng, cơ dựng gai, cơ liên sườn.
  • Vết thương mặt mu tay phải dài 05cm nham nhở, đứt gân duỗi ngón II, III, IV.
  • Vết thương ở gối trái kích thước: 03cm x 0.25cm x 0.25cm.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1331/KLTTCT-TTPYDĐN ngày 18/12/2024, Trung tâm pháp y Sở Y1 xác định:

  • Sẹo vết thương trùng với vết mổ lưng phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%
  • Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên bên phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%
  • Sẹo vết thương trùng với vết mổ mu bàn tay phải hình chữ “V” kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%
  • Sẹo bờ ngoài gối trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
  • Vết thương vùng lưng gây thấu phổi phải tràn dịch tràn khí màng phổi phải (mờ không đồng nhất đáy phổi phải) đã điều trị hiện để lại dải xơ xẹp thùy giữa phổi phải d# 4x22mm và thùy dưới phổi phải kích d # 2x19mm. Tỷ lệ: 10%

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngọc T, sinh năm 1992 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư

Vật gây thương tích: Vật sắc hoặc sắc nhọn.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS-LK ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đồi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách theo quy định. Về bồi thường dân sự: không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 30/9/2024, tại quán nước mía Cô C, số A, H, khu phố G, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Trương Tiến Thái S đã dùng dao bấm đâm anh Lê Ngọc T 03 nhát trúng vào mu bàn tay phải, vùng lưng phải và phía sau khớp gối chân trái gây thương tích với tỷ lệ là 16% (Mười sáu phần trăm).

Hành vi của Trương Tiến Thái S dùng dao là “hung khí nguy hiểm” gây thương tích cho bị hại đã phạm và tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương. Do đó cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong vụ án này, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do hành vi quay clip vợ chồng bị cáo cãi nhau của Nguyễn Lê T1 (cháu ruột bị hại) đã làm cho bị cáo bực tức, lẽ ra khi có mặt tại nơi xảy ra vụ việc, người bị hại là anh T phải giảng hòa cho các bên, tuy nhiên khi thấy S đánh T1 thì để bênh vực T1, anh T đã dùng cây đánh S dẫn đến việc S dùng dao gây thương tích cho anh T, do đó, người bị hại cũng có một phần lỗi.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trương Tiến Thái S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, người bị hại có một phần lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội do bộc phát, người bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định là đủ nghiêm, thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước ta.

[5] Về trách nhiệm dân sự: đã bồi thường xong, người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Lê T1 và chị Trần Thị Minh H không có yêu cầu gì nên không xem xét

[6] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trương Tiến Thái S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trương Tiến Thái S 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Tiến Thái S cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HĐXX SƠ THẨM

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Phạm Thị Vân Khánh

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp Long Khánh;
  • - VKSND Tp Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND; Công an phường Suối Tre, Tp Long Khánh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 108/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger