TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2025/HS-ST Ngày: 07-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Trung Tính
2/ Ông Nguyễn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 719/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Danh T; Giới tính: Nam.; Sinh ngày: 16/8/1972; tại: tỉnh Hải Dương; Hộ khẩu thường trú: thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Phùng Danh K (đã chết) và bà Bùi Thị B (đã chết); bị cáo có vợ là Bùi Thị L và có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến nay tại Trại tạm giam C, Công an thành phố H. (Có mặt)
Bị hại:
Bà Lê Thị T1; Địa chỉ: 2 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Danh T, Phạm Quốc T2, Phùng Danh T3 quen biết nhau do cùng quê vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng tháng 3/1994 T2 xin làm giữ xe tại quán ăn của bà Lê Thị T1 địa chỉ Số F N, Phường G (nay là phường V), Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian làm việc, T2 nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô Honda Dream II biển số 50S1-9908 của bà T1 nên T2 lấy chìa khóa xe của bà T1 để làm riêng một chìa khóa rồi mở yên xe lấy trộm giấy Chứng nhận đăng ký xe để dưới yên. Sau đó, T2 rủ T, T3 cùng nhau trộm cắp xe mô tô trên, T và T3 đồng ý.
Khoảng 23 giờ ngày 04/4/1994, sau khi bàn bạc và phân công nhiệm vụ, T2 đứng canh chừng bên trong quán, T3 đứng canh chừng bên ngoài đường, còn T đi vào bên trong sử dụng chìa khóa do T2 đưa để trộm cắp xe mô tô Honda Dream II biển số 50S1-9908 của bà T1 rồi mang đi gửi tại bãi xe chợ H2, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 14 giờ ngày 05/4/1994, T3 đến trước nhà số A N, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp anh Đoàn H để bán xe nhưng anh H không mua. Sau đó, Đoàn Xuân H1 (em anh H) biết sự việc nên nói T3 để H1 giới thiệu người mua xe lấy tiền môi giới. T3 đồng ý và dẫn H1 đến gặp T để xem xe rồi thỏa thuận bán với giá là 15 chỉ vàng 24K. H1 lấy xe và giấy đăng ký xe đến gặp Phạm Ngọc C nói có người quen muốn cầm xe với giá 20 chỉ vàng 24k, một tháng sau sẽ chuộc lại với giá 22 chỉ vàng 24K, C đồng ý. Sau đó, C thay biển số xe mô tô trên thành 50B2-0823 rồi đem xe đến gặp ông Phạm Ngọc C1 nói cầm xe với giá 22 chỉ vàng 24K, một tháng sau nếu không chuộc lại sẽ bán xe cho ông C1. Ông C1 đồng ý cầm xe nhưng không giữ giấy tờ xe và đưa cho C 22 chỉ vàng. Sau khi nhận vàng từ ông C1, C đưa H1 20 chỉ vàng, giữ lại 02 chỉ vàng. H1 đưa T 15 chỉ vàng, giữ lại 05 chỉ vàng và được T cho thêm 01 chỉ vàng tiền công môi giới. T lấy 14 chỉ vàng và đưa Tưởng 01 chỉ vàng cùng 200.000 đồng, chia Tuyển 04 chỉ vàng, T giữ lại 09 chỉ vàng.
Đến ngày 09/4/1994, ông C1 biết được xe mô tô Honda Dream II biển số 50B2-0823 là xe trộm cắp nên ông C1 mang xe đến Phòng C2 Công an Thành phố H trình báo và giao nộp tài sản.
Ngày 12/4/1994, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố vụ án về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và ra Quyết định khởi tố bị can đối với Phùng Danh T3, Phùng Danh T và Phạm Quốc T2 về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, Đoàn Xuân H1 và Phạm Ngọc C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do Phùng Danh T bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định truy nã đối với Phùng Danh T.
Các đối tượng Nguyễn Văn T4 (tức Phạm Quốc T2), Phùng Danh T3, Đoàn Xuân H1 và Phạm Ngọc C đã bị Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Tại Kết luận định giá tài sản số 8715/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 50S1-9908, số khung C100ME-102329, số máy C100ME-12329, xe mua lại một đời chủ, đã qua sử dụng, thời điểm định giá: 04/4/1994 trị giá 22.000.000 đồng” .
Ngày 27/7/2024, Phùng Danh T bị bắt tại xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương theo Quyết định truy nã số 808-60 ngày 26/8/1994 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Phùng Danh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, vật chứng và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.
* Vật chứng thu giữ: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 109/HSST ngày 18/02/1995 của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.
* Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 109/HSST ngày 18/02/1995 của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phùng Danh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi như đã nêu trên, bị cáo không tranh luận
Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Giữ nguyên bản cáo trạng như đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phùng Danh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải nộp thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu trong phần nội dung vụ án. Bị cáo xác nhận đã cùng với Nguyễn Văn T4, Phùng Danh T3 trộm cắp 01 xe Dream II của bà Lê Thị T1. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, sai. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Phùng Danh T3, Đoàn Xuân H1, phù hợp với Biên bản tạm giữ đồ vật, tài sản; phù hợp với nội dung bản án Hình sự sơ thẩm số ngày 13/02/1996 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, những tài liệu này đã được sao lục và lưu trữ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 04/4/1994, sau khi bàn bạc và phân công nhiệm vụ, Nguyễn Văn T4 đứng canh chừng bên trong quán, Phùng Danh T3 đứng canh chừng bên ngoài đường, còn Phùng Danh T đi vào bên trong sử dụng chìa khóa do T4 đưa để trộm cắp xe mô tô Honda Dream II biển số 50S1-9908 của bà Lê Thị T1 rồi sau đó mang đi tiêu thụ. Tại Kết luận định giá tài sản số 8715/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 50S1-9908, số khung C100ME-102329, số máy C100ME-12329, xe mua lại một đời chủ, đã qua sử dụng, thời điểm định giá: 04/4/1994 trị giá 22.000.000 đồng” nên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 tương ứng tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Phạm Quốc T2 (tức Nguyễn Văn T4) chủ mưu tổ chức cho Phùng Danh T và Phùng Danh T3 trộm cắp tài sản của bị hại. Trong vụ án có sự phân công vai trò nhiệm vụ của các đối tượng; do đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 tương ứng điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hình phạt đối với tội “Trộm cắp tài sản” nhẹ hơn Bộ luật hình sự năm 1985 nên bản cáo trạng truy tố bị cáo theo Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có lợi cho bị cáo là áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ; động cơ mục đích phạm tội do tư lợi . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đến nay trên 30 năm bị cáo không có vi phạm gì nên Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 109/HSST ngày 18/02/1995 của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.
[7] Biện pháp tư pháp:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Trong số 09 chỉ vàng 9999 bị cáo giữ lại, bị cáo đã bán 02 chỉ để lấy tiền cùng các đối tượng trong vụ án ăn nhậu, tiêu xài. Bị cáo còn giữ lại 07 chỉ. Nay buộc bị cáo phải nộp lại số tiền tương đương 07 chỉ vàng 9999 là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phùng Danh T 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2024.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Buộc bị cáo Phùng Danh T phải nộp lại số tiền tương đương 07 (bảy) chỉ vàng tại thời điểm nộp thi hành án để sung quỹ nhà nước.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Bản án số 108/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 108/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Danh T phạm tội Trộm cắp tài sản
