|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-06-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hồng Thái.
- Ông Nguyễn Văn Chuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Hải Y, sinh năm 1992; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/08/2022; Nơi đăng ký HKTT: Thôn V (Xóm 10 cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Địa chỉ liên lạc: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1993; Căn cước công dân số: [...] do Bộ C cấp ngày 11/08/2024; Nơi cư trú: Thôn V (Xóm 10 cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Đoàn Hải Y trình bày:
Chị và anh Phạm Văn T kết hôn vào ngày 11/07/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 03/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay nhận thấy tình cảm giữa chị với anh T không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 04 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày 27/08/2012; Phạm Băng B, sinh ngày 23/09/2015; Phạm Trường V, sinh ngày 15/10/2017 và Phạm Đoàn P, sinh ngày 24/11/2019. Hiện nay cả bốn con đang ở cùng với chị tại nhà bố mẹ đẻ chị tại Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả bốn con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bốn mẹ con chị ở nhờ nhà bố mẹ đẻ chị đảm bảo đầy đủ các điều kiện về ăn ở, sinh hoạt, học tập và được bố mẹ chị hỗ trợ chăm sóc các con hàng ngày; các con đều đang học tập tại xã H, huyện H; đều muốn ở cùng nhau và ở với mẹ; bản thân chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH M ở gần nhà và có thu nhập hàng tháng khoảng 12.000.000 đồng. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì anh Phạm Văn T đi làm ăn xa và không quan tâm chăm sóc, không chu cấp tiền nuôi dưỡng các con.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng, không gửi văn bản ý kiến cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/05/2025, bà Vũ Thị D là mẹ đẻ anh Phạm Văn T trình bày:
Gia đình bà đã nhận được các văn bản của Toà án thông báo về việc chị Y có đơn xin ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung đối với anh T. Anh T đi làm ăn xa nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình và bà đã thông báo cho anh T biết. Anh T có nói với bà không muốn ly hôn, trường hợp chị Y quyết tâm xin ly hôn thì Toà án giải quyết theo pháp luật.
Bà xác nhận anh T và chị Y có đăng ký kết hôn năm 2013 và đã có 04 con chung đang ở cùng chị mẹ đúng như chị Y trình bày. Bà được biết giữa vợ chồng anh T, chị Y có xảy ra mâu thuẫn nhưng không rõ nguyên nhân cụ thể. Đến nay gia đình bà vẫn mong muốn chị Y, anh T đoàn tụ với nhau để cùng nuôi dạy con cái; trường hợp chị Y quyết tâm ly hôn thì gia đình bà mong muốn được nuôi hai cháu để đỡ gánh nặng cho chị Y. Do anh T đi làm ăn xa nên bà nhận trách nhiệm nhận thay anh T các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án và sẽ thông báo lại cho anh T được biết.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 15/05/2025, chính quyền địa phương xã T cung cấp:
Chị Đoàn Hải Y và anh Phạm Văn T có đăng ký kết hôn ngày 11/07/2013 tại UBND xã T. Anh chị có 04 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày 27/08/2012; Phạm Băng B, sinh ngày 23/09/2015; Phạm Trường V, sinh ngày 15/10/2017 và Phạm Đoàn P, sinh ngày 24/11/2019 đang ở cùng với chị Y. Anh T vẫn có đăng ký thường trú tại thôn V (tức X 10 cũ), xã T, huyện T và theo thông tin của gia đình cung cấp hiện anh T đi làm ăn xa nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Y và anh T thì chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Đến nay chị Y có yêu cầu xin ly hôn anh T, đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tại phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên toà của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt làm việc theo giấy triệu tập của Toà án, chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Toà án xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Hải Y, xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Hải Y và anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao cho chị Đ Hải Yến trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày 27/08/2012; Phạm Băng B, sinh ngày 23/09/2015; Phạm Trường V, sinh ngày 15/10/2017 và Phạm Đoàn P, sinh ngày 24/11/2019 hiện đang ở với chị Y. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đoàn Hải Y không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự được biết. Tuy nhiên, bị đơn anh Phạm Văn T mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt tham gia tố tụng và không gửi văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Toà án không tiến hành hoà giải vụ án được. Tại phiên toà vắng mặt tất cả các đương sự nhưng nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Do đó, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Hải Y và anh Phạm Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 11/07/2013 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định nên chị Y và anh T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của chị Y, bà Vũ Thị D là mẹ đẻ anh T, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã T thì giữa chị Y và anh T có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2024 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, chị Y có yêu cầu xin ly hôn, anh T không muốn ly hôn nhưng khi Toà án triệu tập tham gia hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng thì anh T đều vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh T không quan tâm tìm giải pháp để hoà giải mâu thuẫn đoàn tụ vợ chồng. Đến nay thời gian vợ chồng sống ly thân đã kéo dài hơn 01 năm, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Do đó nếu có tiếp tục duy trì thì mục đích của hôn nhân là hạnh phúc gia đình cũng không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Hải Y, cho ly hôn giữa chị Y và anh Phạm Văn T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về việc nuôi con chung: Chị Đoàn Hải Y và anh Phạm Văn T có 04 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày 27/08/2012; Phạm Băng B, sinh ngày 23/09/2015; Phạm Trường V, sinh ngày 15/10/2017 và Phạm Đoàn P, sinh ngày 24/11/2019. Hiện tại 04 con đang ở cùng với chị Y.
[3.1] Xét yêu cầu của chị Đoàn Hải Y nhận nuôi dưỡng 04 con chung: Chị Y hiện làm công nhân may tại địa phương, đi làm và về nhà trong ngày, có thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng nên có đủ điều kiện về kinh tế, thời gian để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Hiện tại mẹ con chị Y có chỗ ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ chị Y và được gia đình hỗ trợ nuôi con; các cháu Phạm Thị Như Q, Phạm Băng B, Phạm Trường V đã trên 07 tuổi đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Anh Phạm Văn T hiện đi làm ăn xa, không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung, cũng không có thông tin anh T đang làm công việc gì, thu nhập bao nhiêu nên có cơ sở khẳng định chị Y có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt hơn anh T. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, đảm bảo sự ổn định về chỗ ở và học tập của các con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Hải Y, giao cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Hiện nay cả 04 con đều đang ở cùng với chị Y nên anh T không phải thực hiện nghĩa vụ giao con cho chị Y. Sau khi anh T trở về địa phương, nếu có yêu cầu thay đổi quyền nuôi con chung sau khi ly hôn và hai bên có tranh chấp thì anh T có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[3.1] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con với lý do chị được gia đình bố mẹ đẻ hỗ trợ nuôi con đầy đủ. Mặt khác, anh T hiện không có mặt tại địa phương, không xác định được mức thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Chị Đoàn Hải Y không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Anh Phạm Văn T vắng mặt không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về vấn đề tài sản. Do đó, Toà án không xem xét giải quyết. Nếu sau này anh T có tranh chấp về tài sản, công nợ trong thời kỳ hôn nhân với chị Y và có yêu cầu thì có quyền khởi kiện giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Đoàn Hải Y phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Hải Y và anh Phạm Văn T.
- Về con chung:
Giao cho chị Đ Hải Yến tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung là Phạm Thị Như Q, sinh ngày 27/08/2012; Phạm Băng B, sinh ngày 23/09/2015; Phạm Trường V, sinh ngày 15/10/2017 và Phạm Đoàn P, sinh ngày 24/11/2019. (Hiện nay cháu Q, cháu B, cháu V, cháu P đang ở với chị Y).
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đoàn Hải Y không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Hải Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004254 ngày 01/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chị Đoàn Hải Y đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đoàn Hải Y và bị đơn anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Kiên |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa chị Y và anh T