TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST Ngày 25 – 6 – 2025 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Phan Minh Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Trong các ngày 24 và 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ X, sinh năm 1989;
- Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- - Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1989;
- Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ X trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C tự nguyện chung sống với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không hạnh phúc và đã ly thân nhau từ tháng 01/2024. Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh C được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị X xác định chị và anh C có 02 người con tên Phạm Văn K sinh ngày 04/8/2011 và Phạm Kiều M sinh ngày 30/10/2017, hiện các cháu K và M do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu K và M; yêu cầu anh C cấp dưỡng cho cháu M theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị X xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Phạm Văn C, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh C không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị X, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh C.
[2] Về hôn nhân: Chị X với anh C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2011. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Mỹ X với anh Phạm Văn C được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị X xác định trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, được gia đình hai bên hàn gắn nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Tại phiên tòa chị X xác định không còn tình cảm với anh C và cũng không thể tiếp tục chung sống với anh C được nữa nên vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh C; đối với anh Phạm Văn C đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị X nhưng anh C cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị X, điều này cho thấy anh C đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị X với anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị X, cho chị X được ly hôn với anh C là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị X xác định trong thời gian chung sống chị X và anh C có 02 người con tên Phạm Văn K sinh ngày 04/8/2011 và Phạm Kiều M sinh ngày 30/10/2017, hiện các cháu K và M do chị X nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu K và M; đối với anh C không có ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh C và chị X ly thân cho đến nay các cháu K và M do chị X nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao các cháu K và M cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ và cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu K và M. Xét yêu cầu cấp dưỡng cho con chung là cháu M của chị X, thấy rằng: Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, do vậy yêu cầu của chị X là có căn cứ, buộc anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu M mỗi tháng 1.170.000 đồng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi, việc cấp dưỡng được thực hiện định kỳ hàng tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp.
[4] Về tài sản chung: Chị X xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh C không có ý kiến gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị X xác định vợ chồng không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh C không có ý kiến gì về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Do chị Nguyễn Mỹ X, anh Phạm Văn C thuộc diện hộ nghèo. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử xét miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Nguyễn Mỹ X, do chị X đã tạm dự nộp án phí 300.000 đồng nên được nhận lại; miễn án phí cấp dưỡng cho con cho anh Phạm Văn C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Mỹ X. Cho chị Nguyễn Mỹ X được ly hôn với anh Phạm Văn C.
- Về con chung: Giao các cháu Phạm Văn K sinh ngày 04/8/2011 và Phạm Kiều M sinh ngày 30/10/2017 cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Phạm Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Phạm Kiều M mỗi tháng 1.170.000 đồng (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), việc cấp dưỡng thực hiện định kỳ hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2025) cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày chị X có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được thi hành án nếu như anh C chưa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm phần lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thi hành án.
- Về án phí:
- 3.1. Chị Nguyễn Mỹ X được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ngày 11/3/2025 chị X đã tạm dự nộp án phí 300.000 đồng tại biên lai số 0016961 ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, chị X được nhận lại.
- 3.2. Anh Phạm Văn C được miễn án phí cấp dưỡng cho con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mỹ X xin ly hôn với Phạm Văn C
