|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 03 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 118/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 và giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Hiện nay anh A đang lao động tại Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Trần Thị H bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Ngọc A quen biết nhau qua hệ thống facebook. Sau một thời gian nói chuyện, chị H và anh A phát sinh tình cảm nên cả hai quyết định tiến đến hôn nhân. Hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 15/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, chị H và anh A chung sống với nhau tại xã C, huyện N. Cuộc sống hạnh phúc, năm 2013 thì anh A đi lao động Đài Loan. Năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống xa nhau, ít có cơ hội nói chuyện, chia sẻ khó khăn với nhau, dần dần mất tình cảm. Năm 2016 chị H làm đơn yêu cầu được ly hôn tuy nhiên sau đó lại rút đơn để vợ chồng có thêm cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, sau đó mâu thuẫn của chị H và anh A không thể dung hòa. Năm 2023 khi anh A về thăm gia đình chị H đã nói rõ quan điểm là nếu anh A đi nước ngoài thì vợ chồng ly hôn nhưng anh A vẫn lựa chọn con đường ra đi. Hiện nay chị H nhận thấy tình cảm không còn, chị H đã chủ động liên lạc với anh A để thống nhất việc ly hôn, nhưng anh A không cung cấp địa chỉ ở nước ngoài. Anh A nói với chị H cứ làm đơn để ly hôn chứ anh không về. Vì vậy chị H viết đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A.
- Về con chung: Chị H và anh A có 01 con chung tên Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/3/2010. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc A cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Ngọc A về nước và có ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân. Anh A không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H với lý do thời gian vợ chồng cưới nhau có xảy ra xích mích và có khởi kiện ly hôn nhưng sau đó vợ chồng đã hoà giải đoàn tụ được với nhau. Anh A đi lao động ở nước ngoài từ năm 2014 đến nay, trong quá trình làm việc ở nước ngoài anh A thường xuyên về nước và thường xuyên gửi tiền và gọi điện về nhà, không có mâu thuẫn nào khác. Tuy nhiên trong trường hợp chị H kiên quyết vẫn yêu cầu ly hôn thì anh A đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh A và chị H có 01 con chung tên Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/3/2010. Đề nghị lấy ý kiến của con chung, nếu con chung sống với anh A thì anh A không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu con chung sống với chị H thì anh A không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đề nghị Toà án chia đôi tài sản chung. Anh A và chị H không có nợ chung.
Ngoài ra anh A có ý kiến ngày 06/6/2025 anh A sẽ quay lại làm việc tại Đài Loan, nên xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án, và có nguyện vọng uỷ quyền lại cho bố mẹ anh A là ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1955 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thay mặt anh giao nhận các văn bản với Toà án để thông báo lại cho anh A biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/3/2010 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Ngọc A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con và được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: chị Trần Thị H phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Nguyễn Ngọc A tại thời điểm thụ lý vụ án, anh A đang lao động tại Đài Loan. Tại văn bản số 444/QLXNC-Đ1 ngày 18/4/2025 của Phòng quản lý Xuất nhập cảnh Công an tỉnh H thể hiện: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 11/02/1984; địa chỉ: Xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 02/5/2024 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã về nước và có ý kiến xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị H và anh Nguyễn Ngọc A theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh A tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyền số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 15/02/2008 nên hôn nhân giữa chị H và anh A là hôn nhân hợp pháp.
Chị H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn bắt đầu từ năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, ít có cơ hội nói chuyện, chia sẻ khó khăn với nhau, dần dần mất tình cảm. Năm 2016 chị H làm đơn yêu cầu được ly hôn tuy nhiên sau đó lại rút đơn để vợ chồng có thêm cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, sau đó mâu thuẫn của chị H và anh A không thể dung hòa. Năm 2023 khi anh A về thăm gia đình chị H đã nói rõ quan điểm là nếu anh A đi nước ngoài thì vợ chồng ly hôn nhưng anh A vẫn lựa chọn đi lao động nước ngoài. Đối với yêu cầu ly hôn của chị H, anh A đồng ý ly hôn trong trường hợp chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn của mình.
Chị H và anh A là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị H và anh A xảy ra mâu thuẫn, chị H và anh A không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình đề nghị được ly hôn với anh A, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị H được ly hôn với anh A.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh A có 01 con chung là Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/3/2010. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu và theo nguyện vọng của cháu cần giao cháu Nguyễn Minh H1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị H không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung, nợ chung. Anh A đề nghị Toà án giải quyết nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh các tài sản chung nên Toà án không có căn cứ để xem xét giải quyết. Anh A có quyền khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung bằng một vụ án khác. Về nợ chung không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57,58, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 04/3/2010 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (18 tuổi). Chị H không yêu cầu nên anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh A thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số [...] ngày 14/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hiên và anh Nguyễn Ngọc Anh quen biết nhau qua hệ thống facebook. Sau một thời gian nói chuyện, chị Hiên và anh Anh phát sinh tình cảm nên cả hai quyết định tiến đến hôn nhân. Hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 15/02/2008
