|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-03-2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 545/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối 5, thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện cư trú: 50321 Brühl Kölnstraße 52, Cộng hoà liên bang Đức; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn Ng, sinh năm 1989. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm 3, xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Cộng hoà liên bang Đức; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Chị Ngô Thị L trình bày:
Chị và anh Trần Văn Ng kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hoà Liên bang Đức vào ngày 14/03/2019. Sau khi kết hôn và sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì cuộc sống hôn nhân vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được, từ đó đến nay vợ chồng không ai quan tâm ai về vật chất lẫn tinh thần, vợ chồng đã L thân hơn một năm nay tại Đức. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị L về Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được L hôn với anh Trần Văn Ng.
- Về con chung: Chị và anh Trần Văn Ng có 01 con chung là cháu Trần Minh Anh, sinh ngày 20/03/2022. Hiện nay cháu Trần Minh Anh đang ở với chị L. L hôn chị L có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Minh Anh và không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Văn Ng, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Ngô Thị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Ng ở Đức. Theo chị L trình bày anh Ng vẫn thường xuyên liên lạc về với bố đẻ là ông Trần Văn Nghiêm sinh năm 1967; địa chỉ cư trú: xóm 3, xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và ông Nghiêm biết địa chỉ cụ thể của anh Ng ở Đức; đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Trần Văn Nghiêm (là bố đẻ của anh Trần Văn Ng) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để chị L thông báo cho anh Ng và đề nghị anh Ng nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị L. Tại đơn trình bày ông Trần Văn Nghiêm cho biết ông thường xuyên liên lạc với anh Ng. Thông qua ông thì anh Ng đồng ý L hôn với chị L và Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh Ng khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh Ng không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Ngô Thị L được L hôn với anh Trần Văn Ng. Về con chung: Giao con chung là Trần Minh Anh, sinh ngày 20/3/2022 cho chị Ngô Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ngô Thị L chưa yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Cộng hoà liên bang Đức. Trước khi xuất cảnh anh Trần Văn Ng có địa chỉ tại xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn Ng hiện đang ở Đức, không có địa chỉ cụ thể. Ông Trần Văn Nghiêm, bố đẻ anh Ng đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông Nghiêm cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Ng ở Đức nhưng ông Nghiêm không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh Ng trình bày về yêu cầu khởi kiện L hôn của chị L nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Ngô Thị L vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn Ng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn Ng kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, thường xuyên có nhiều mâu thuẫn và phát sinh cãi vã. Hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị L có nguyện vọng được L hôn với anh Ng. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa hai bên không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị L được L hôn với anh Ng là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn Ng có 01 con chung là cháu Trần Minh Anh, sinh ngày 20/03/2022. Hiện cháu sống với chị L từ nhỏ tại Cộng hoà liên bang Đức; chị L có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Minh Anh, sinh ngày 20/03/2022. Xét thấy, anh Ng hiện đang ở nước ngoài và thông qua ông Trần Văn Nghiêm đã đồng ý giao cháu Trần Minh Anh cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị L chưa yêu cầu và anh Ng cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Chị Ngô Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Ngô Thị L.- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L được L hôn với anh Trần Văn Ng.
- - Về con chung: Giao cháu Trần Minh Anh, sinh ngày 20/3/2022 cho chị Ngô Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ngô Thị L chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Sau khi L hôn, anh Trần Văn Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Chị Ngô Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013501 ngày 13 tháng 11 năm 2024.
- Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn Ng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ sơ thẩm
