TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 4 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Minh Đức
- Ông Võ Văn Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ T, sinh năm 20xx, có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đỗ T1, sinh năm 19xx, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
Địa chỉ: Ấp F, xã G, huyện G, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 19 tháng 8 năm 2024 và quá trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ T trình bày: Chị T và anh T1 kết hôn vào tháng 9 năm 2023, có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống đến năm 2024 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 chỉ biết ăn chơi, sinh ra nợ, không phụ vợ nuôi con, thường xuyên nhắn tin điện thoại quan hệ tình cảm với gái. Từ tháng 12/2024 chị T bỏ về nhà mẹ ruột sống đến nay, vợ chồng không hàn gắn tình cảm. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Ngọc Kiều T2, sinh ngày 11/12/2023 đang sống với chị T. Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Đỗ T1 vắng mặt không có lời trình bày.
* Ý kiến của Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Mỹ T, cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Đỗ T1. Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Kiều T2, sinh ngày 11/12/2023 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Đỗ T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T1.
[1] Về hôn nhân, chị Võ Thị Mỹ T và anh Nguyễn Đỗ T1 tự nguyện kết hôn, được UBND xã G, huyện G cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 11/9/2023 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình như chị T trình bày, nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án triệu tập anh T1 nhiều lần đến Tòa để hòa giải hàn gắn tình cảm, nhưng anh không đến, không gởi cho Tòa án ý kiến của anh T1 về việc chị T yêu cầu ly hôn, cho thấy anh T1 không muốn tiếp tục hôn nhân với chị T. Xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
[2] Về nuôi con chung, chị T đang trực tiếp nuôi con chung dưới 36 tháng tuổi. Anh T1 không có ý kiến về việc nuôi con chung. Theo quy định Điều 81,82, 83 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T, ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung, ghi nhận đương sự không yêu cầu giải quyết.
[4] Án phí sơ thẩm: Chị T chịu án phí ly hôn theo quy định.
Đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mỹ T.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Mỹ T và anh Nguyễn Đỗ T1.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Kiều T2, sinh ngày 11/12/2023 cho chị Võ Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Đỗ T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ T phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0013600 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Dũng |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
