|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do– Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2025 V/v tranh chấp “ Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
- Bà Lê Thị Bé Bảy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Đoan T - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 272/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang K, sinh năm 1997.
Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
2.Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2001.
Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang;
( Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Thanh T1 cưới nhau từ năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T1. Về con chung : có 01 con chung tên Nguyễn Hải N sinh ngày 20/7/2020. Ly hôn anh K đồng ý giao con cho chị T1 nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Nguyễn Thị Thanh T1 khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị T1 không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không rõ lý do.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin vắng, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng các đương sự. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh K. Giao cháu Nguyễn Hải N sinh ngày 20/7/2020cho anh K nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các cháu, ghi nhận anh K không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh K trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Thanh T1 có hộ khẩu thường trú tại phường E thành phố M. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[2]. Sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng, bị đơn không có đơn xin xét xử vắng mặt, và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự
[3].Về quan hệ hôn nhân: anh K và chị T1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân X, huyện C, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân hợp pháp. Sau khi xác lập hôn nhân anh K và chị T1 sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm sống, hiện vợ chồng bà đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án anh K xác định không còn tình cảm với chị T1 nên không muốn hàn gắn. Đồng thời khoảng thời gian sống ly thân, cả hai vợ chồng vẫn chưa thể hàn gắn nên mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể duy trì cuộc sống chung. Ngoài ra từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, chị T1 không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến của mình về việc anh K yêu cầu ly hôn và nêu biện pháp hàn gắn duy trì quan hệ hôn nhân. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K cho anh K được ly hôn với chị T1.
[4].Về nuôi con chung: Thời gian hôn nhân anh K và chị T1 có 01 con chung tên Nguyễn Hải N sinh ngày 20/7/2020. Hiện tại cháu N có nguyện vọng được ở cùng cha, chị T1 cũng không có văn bản ý kiến đối với việc nuôi con của anh K. Do đó, để ổn định tâm lý cũng như bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con chung, cần tiếp tục giao cháu N cho anh K nuôi dưỡng.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con: anh K có việc làm với thu nhập ổn định, anh cũng không có yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng không đặt ra xem xét.
[6].Về tài sản chung và nợ chung: anh K trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8].Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Anh Nguyễn Quang K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 58, 8 1, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Quang K
Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Quang K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T1
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hải N sinh ngày 20/7/2020 cho anh K trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.Về án phí: Anh Nguyễn Quang K phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005485 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh tỉnh Tiền Giang, như vậy đã nộp xong.
3. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Trúc Linh |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang Kỳ, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp Tân Thạnh, xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; 2.Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh Thủy, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
