Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/DS-PT

Ngày: 27 - 5 - 2025

V/v Tranh chấp đòi lại tài sản

là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 99/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Cảnh H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B V, phường C, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Võ Ngọc S, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Ngô Đức T, sinh năm 1991 và ông Trần Đăng Q, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: Số A P, phường A, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền ngày 21/02/2022)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B V, phường C, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Cảnh H, ông Võ Ngọc S, ông Trần Đăng Q, bà Nguyễn Thị Ngọc L1; vắng mặt ông Ngô Đức T và bà Nguyễn Thị Kim L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 29/12/2021 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Cảnh H trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27, diện tích 516.590m², tọa lạc tại thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là do Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận số V 211830 ngày 24/7/2002 cho hộ ông Bùi P.

Ngày 24/3/2018, gia đình ông Bùi Phú chuyển N toàn bộ diện tích đất trên cho ông Nguyễn Cảnh H, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐCC. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với cơ quan Nhà nước. Ông H cho rằng, việc ông nhận chuyển nhượng đất là hợp pháp, ngay tình, được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận ngày 20/4/2018 nên có hiệu lực pháp luật.

Khi tiến hành nhận bàn giao đất thì ông phát hiện ông Võ Ngọc S chiếm dụng một phần thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27 với diện tích theo kết quả đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng Đ là 8.296,6m². Ông yêu cầu ông Võ Ngọc S trả lại diện tích đất lấn chiếm nhưng ông S không thực hiện. Do vậy, ông Nguyễn Cảnh H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Ngọc S phải trả lại cho ông H diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc thực tế là 8.296,6m², thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27, diện tích 516.590m², tọa lạc tại thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận số V 211830 ngày 24/7/2002 cho hộ ông Bùi P, đăng ký chuyển quyền cho ông ngày 20/4/2018.

Trường hợp bị đơn ông Võ Ngọc S chấp nhận trả lại đất lấn chiếm cho ông H thì ông H đồng ý hỗ trợ tài sản trên đất cho bị đơn theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; đồng thời nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí, chi phí tố tụng phát sinh.

* Bị đơn ông Võ Ngọc S, người đại diện hợp pháp cho bị đơn là ông Trần Đăng Q trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp được Nhà nước cấp cho Hội Cựu chiến binh tỉnh B để canh tác vào năm 1991. Ông Bùi P là 01 trong 06 thành viên của Hội Cựu chiến binh, được ủy quyền để làm thủ tục nhận diện tích đất được giao. Sau khi sử dụng đến năm 1996, không thu được lợi nhuận nên không tiếp tục canh tác đất.

Năm 1996, thấy đất bỏ hoang không ai canh tác, ông Võ Ngọc S tiến hành khai phá và canh tác liên tục một phần diện tích đất khoảng 8.200m² cho đến nay; không chuyển nhượng, tặng cho phần đất này cho bất kỳ ai. Do kinh tế khó khăn, không đủ điều kiện để đóng các khoản tiền sử dụng đất, lệ phí nên chưa thực hiện việc đăng ký đất đai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2006, ông S mới biết thông tin diện tích đất của gia đình ông được cấp giấy chứng nhận cho ông Bùi P, sau đó ông P kiện đòi lại 51ha đất từ những hộ dân canh tác lâu nay và được Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân thụ lý, giải quyết. Dù vậy, ông S vẫn tiếp tục canh tác diện tích đất này, hiện trên đất ông đang trồng cây bạch đàn; không tranh chấp với bất kỳ ai cho đến khi ông Nguyễn Cảnh H nhận chuyển nhượng lại diện tích đất này thì ông H tranh chấp với ông S.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu ông Võ Ngọc S trả lại diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc thực tế là 8.296,6m² thì ông S không đồng ý, vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Bùi Phú T1 với quy định của pháp luật bởi những lý do sau:

  • Quyết định số: 1203/QĐ-UB/HT ngày 24/7/2002 của Ủy ban nhân dân huyện H về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 35 hộ dân, trong đó có hộ ông Bùi P đã áp dụng Nghị định số: 64/NĐ-CP, Nghị định số: 85/1999/NĐ-CP là không đúng quy định của pháp luật vì các nghị định này quy định về việc cấp đất nông nghiệp, trong khi loại đất được cấp cho ông Bùi P là đất rừng trồng.
  • Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số: 163/1999/NĐ-CP thì hạn mức đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết nhưng không quá 30ha. Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp mà Ủy ban nhân dân huyện H cho hộ ông Bùi Phú H1 51 ha là vượt hạn mức.
  • Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 04/2000/NĐ-CP, thì Nhà nước chỉ cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và có các loại giấy tờ hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số: 17/1999/NĐ-CP. Tuy nhiên, ông P không phải là cá nhân đang sử dụng đất mà chỉ là đại diện cho Hội Cựu chiến binh để nhận đất canh tác. Mặt khác, khoảng năm 1995-1996, Hội Cựu chiến binh bỏ đất hoang nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật đất đai năm 1993 thì Nhà nước sẽ thu hồi đất trong trường hợp đất được giao không được sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất cho phép.

Ngoài ra, trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Bùi P, có tờ trình của Ủy ban nhân dân xã T có nội dung “Xã T đã tổ chức đo đạc” là không khách quan, minh bạch. Tại thời điểm xét cấp giấy chứng nhận cho hộ ông P, Ủy ban nhân dân xã T không tiến hành xác minh, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, vi phạm quy định tại khoản 2 Mục I.2.4 Phần II của Thông tư số: 346/1998/TT-TCĐC của T2.

Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Bùi P là không đúng đối tượng sử dụng đất; áp dụng sai quy định của pháp luật để cấp giấy chứng nhận; việc cấp đất vượt hạn mức; tại thời điểm xét cấp giấy chứng nhận, cơ quan có thẩm quyền chưa xem xét, đánh giá hiện trạng sử dụng đất. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Cảnh H và hộ ông Bùi Phú L2 vô hiệu do vi phạm Điều 123 của Bộ luật Dân sự 2015.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim L là vợ hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Cảnh H. Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số V 211830 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 24/7/2002 đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27 với diện tích 516.590m² là tài sản chung của vợ chồng bà được tạo lập trong thời kì hôn nhân. Nguồn gốc là do nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Phú V năm 2018. Bà L đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cảnh H, buộc ông Võ Ngọc S trả lại diện tích đất lấn chiếm cho vợ chồng bà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc L1 trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của phía bị đơn. Bà và ông S là vợ chồng hợp pháp, nguồn gốc đất tranh chấp và tài sản trên đất là do vợ chồng bà L1 và ông S tạo lập, sử dụng từ năm 1998 đến nay. Bà L1 đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 117, Điều 119, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
  • Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cảnh H về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” với ông Võ Ngọc S.

  1. Buộc ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải trả lại cho ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L diện tích đất 8.296,6m², thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; được giới hạn bởi các điểm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1; theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ, ký duyệt ngày 21/3/2023. (Kèm theo bản án).

Ông Nguyễn Cảnh H, bà Nguyễn Thị Kim L phải có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L được quyền sở hữu toàn bộ số cây bạch đàn trên diện tích đất 8.296,6m².
  2. Ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L phải hoàn trả trị giá toàn bộ số cây bạch đàn trên đất với số tiền 24.887.311 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 15/01/2025, bị đơn ông Võ Ngọc S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị đơn ông Võ Ngọc S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Bị đơn ông Võ Ngọc S kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Ngô Đức T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[3] Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Cảnh H, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Ngọc S, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do Ủy ban nhân dân huyện H giao cho ông Bùi P và ông Lê Hạnh P1 theo Quyết định số 540/QĐ/UB-HT ngày 04/4/1991 để quản lý và sử dụng vào mục đích trồng cây kinh tế bạch đàn tập trung; diện tích đất được giao là 425 ha. Sau khi nhận đất, ông Lê Hạnh P1 không có nhu cầu sử dụng nên ông Bùi P sử dụng diện tích là 516.590m² trong tổng diện tích đất được giao 425ha nêu trên. Năm 2002, diện tích đất trên của ông Bùi P được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 211830 ngày 24/7/2002. Từ cuối năm 2005, ông P phát hiện một số hộ dân ở xã T lấn chiếm đất của ông, trong đó có ông Võ Ngọc S chiếm của ông 0 thửa với tổng diện tích là 26.121,5m², gồm: Thửa số 8, diện tích 8.503,5m²; thửa số 10, diện tích 17.314,5m² và thửa số 15, diện tích 303,5m² nên ông P khởi kiện tranh chấp đất đai với ông Võ Ngọc S. Tại Bản án số 33/2009/DS-ST ngày 21/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân tuyên xử, buộc ông Võ Ngọc S trả diện tích đất 26.121m² đã lấn chiếm của ông Bùi P. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 12/4/2012, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Tân đã thực hiện cưỡng chế chuyển giao đất cho ông Bùi P.

[5] Ngày 24/3/2018, ông Bùi Phú L3 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số V 211830 ngày 24/7/2002 cho ông Nguyễn Cảnh H (hợp đồng được công chứng theo đúng quy định của pháp luật về công chứng); việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P và ông H được Chi nhánh Văn phòng Đ đăng ký, cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Cảnh H vào ngày 20/4/2018. Do đó, trình tự, thủ tục chuyển nhượng là hợp pháp; việc chuyển nhượng đã phát sinh hiệu lực theo Điều 117, Điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 167 Luật đất đai năm 2013, nên diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Cảnh H.

[6] Theo Mảnh trích đo hiện trạng đất, do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ, ký duyệt ngày 21/3/2023 xác định diện tích đất tranh chấp 8.296,6m². Diện tích đất này nằm hoàn toàn trong Giấy chứng nhận số V 211830 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 24/7/2002 cho hộ ông Bùi P. Theo Văn bản số 3776/CV/CNVPĐKĐĐ-KT ngày 16/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ xác định diện tích đất tranh chấp giữa ông H và ông S là 8.296,6m² là trùng với diện tích đất 8.503,5m² (thửa số 8) trước đây ông Bùi Phú tranh C với ông Võ Ngọc S, được Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân giải quyết bằng Bản án số 33/2009/DS-ST ngày 21/4/2009 (đã có hiệu lực pháp luật). Diện tích đất chênh lệch là do đo đạc theo sự chỉ dẫn của các đương sự.

[7] Từ những nhận trên, có đủ căn cứ để khẳng định ông Nguyễn Cảnh H là chủ sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất 8.296,6m², việc ông Võ Ngọc S có hành vi chiếm đất của ông H là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H và bị pháp luật nghiêm cấm. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông S và bà L1 phải trả lại diện tích đất 8.296,6m² cho ông H và bà L là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 26 và khoản 5 Điều 166 của Luật đất đai năm 2013. Nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông S và bà L1 phải trả lại diện tích đất 8.296,6m² cho ông H và bà L là có căn cứ, đúng pháp luật.

[8] Do đó, xét ý kiến của bị đơn, cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là do bị đơn khai hoang từ năm 1996 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Bùi P là không đúng đối tượng sử dụng đất; áp dụng sai quy định của pháp luật để cấp giấy chứng nhận; tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, cơ quan có thẩm quyền chưa xem xét, đánh giá hiện trạng sử dụng đất thì đã được Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ, đúng pháp luật nên không chấp nhận ý kiến của bị đơn.

[9] Bị đơn còn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông P (ủy quyền cho ông H2); không đưa ông P1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét thấy, đây là vụ án tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất giữa ông H và ông S, ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặt khác gia đình ông P, ông P1 không có tranh chấp đất hay tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất với ông H trong vụ án này nên không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các ông vào tham gia tố tụng là đúng pháp luật.

[10] Về tài sản trên đất tranh chấp là cây bạch đàn tái sinh dưới 02 năm tuổi, do bị đơn tạo lập. Xét thấy, các tài sản này bị đơn tạo lập trái phép trên đất của nguyên đơn, lẽ ra cần buộc bị đơn phải di dời toàn bộ tài sản này để trả lại đất cho nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn đồng ý nhận lại toàn bộ cây bạch đàn trên đất tranh chấp và hoàn trả giá trị tài sản cho bị đơn theo giá của Hội đồng định giá. Xét thấy, ý kiến trên của nguyên đơn là tự nguyện, có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận. Do đó, giao cho ông H và bà L được quyền sở hữu toàn bộ số cây bạch đàn trên diện tích đất 8.296,6m², đồng thời ông H và bà L phải hoàn trả cho ông S và bà L1 trị giá cây trồng trên đất là 24.887.311 đồng.

[11] Ngoài số tài sản trên, phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh trong thời gian chiếm dụng đất trái phép, bị đơn có tạo lập tài sản khác trên đất, đầu tư tiền bạc, công sức để cải tạo đất, làm tăng giá trị của đất nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[12] Từ nhận định trên, xét thấy bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[13] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cảnh H được chấp nhận nên ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

[14] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Ngọc S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
  2. Căn cứ vào:
    • Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
    • Điều 117, Điều 119, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015;
    • Khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
    • Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cảnh H về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Võ Ngọc S.
    1. Buộc ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải trả lại cho ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L diện tích đất 8.296,6m², thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 211830 do UBND huyện H cấp ngày 24/7/2002 cho hộ ông Bùi P, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Nguyễn Cảnh H vào ngày 20/4/2018; được giới hạn bởi các điểm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1; theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ, ký duyệt ngày 21/3/2023. (Kèm theo bản án).

    Ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    1. Ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L được quyền sở hữu toàn bộ số cây bạch đàn trên diện tích đất 8.296,6m².
    2. Ông Nguyễn Cảnh H và bà Nguyễn Thị Kim L phải hoàn trả trị giá toàn bộ số cây bạch đàn trên đất với số tiền 24.887.311 đồng cho ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1.
    3. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu 9.183.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông S và bà L1 phải hoàn trả số tiền trên cho ông Nguyễn Cảnh H.
    4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Cảnh H 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007072 ngày 11/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
    6. Về án phí phúc thẩm: Ông Võ Ngọc S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011138 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Ông S đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
    7. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/5/2025).

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND huyện Hàm Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tòa DS, Tổ HCTP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/DS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 108/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Cảnh H kiện Võ Ngọc S về việc "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger