Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NHÂN DÂN tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/DS-PT

Ngày 07-03-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ;
  2. Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 602/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 249/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1944; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hoàng D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ A, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền; văn bản uỷ quyền ngày 02-01-2024; có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  4. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Vương Sơn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền; văn bản uỷ quyền ngày 23-7-2024; có mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. 3.1. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  2. 3.2. Chị Lê Thị Kim N1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  1. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H3 là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị H3 và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 07-6-1991, chồng bà Nguyễn Thị H3 là ông Lê Thanh B nhận chuyển nhượng của Công an huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh (sau đây viết tắt là Công an) phần đất nông nghiệp diện tích 02 ha, với giá là 24 chỉ vàng 24K vàng 96%; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng bà H3 sản xuất đậu, nuôi cá và lập vườn. Đến năm 1995, ông B bị bệnh nên vợ chồng chuyển nhượng cho ông Phùng Văn H2 diện tích đất 10.000 m² và ông Nguyễn Hoàng V1 diện tích đất 5.600 m², còn lại diện tích còn lại 4.400 m² nhưng thực tế chỉ có 2.800 m², có kích thước chiều ngang 14 m x chiều dài 200 m là đất trống; bà H3 tiếp tục sử dụng canh tác, nuôi cá, trồng cây ăn quả. Phần đất này, hiện nay bà H3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 1999, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị V (sau đây viết tắt là bị đơn) đến lấn chiếm phần đất diện tích 1.442 m² (chiều ngang 14 m x chiều dài 103 m) tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33; lúc này, bà H3 đang quản lý, sử dụng diện tích 1.358 m² (chiều ngang 14 m x chiều dài 97 m), tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 33.

Năm 2000, ông B chết. Đến năm 2008, bà H3 khởi kiện bị đơn; Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2009/DS-ST ngày 15-5-2009 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định: Buộc bị đơn trả lại diện tích 1.442 m² (chiều ngang 14 m x chiều dài 103 m); Bản án dân sự phúc thẩm số: 111/2010/DS-PT ngày 17-6-2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đến ngày 30-9-2010 Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, do phần đất tranh chấp các bên không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.

Ngày 27-11-2023, bị đơn thuê máy cày, xe máy cuốc san bằng phần đất còn lại của bà H3 đang quản lý, sử dụng diện tích 1.358 m², thửa số 61, tờ bản đồ số 33 và phần đất trước đây bị đơn lấn chiếm diện tích 1.442 m², thửa số 51, tờ bản đồ số 33.

3

Nay bà H3 khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại các thửa đất số 51, số 61, cùng tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và yêu cầu bị đơn chặt bỏ 138 cây cao su 01 năm tuổi trên đất.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị V và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp tại thửa đất số 51, thửa đất số 61, cùng tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là của cụ Nguyễn Thị C (là bà nội ông N), cụ thể: Năm 1960, cụ C mua của ông Lương Văn V2 phần đất có diện tích khoảng hơn 06 ha, trong đó 04 ha đất rẫy và 02 ha đất ruộng; việc mua bán không làm giấy tờ; đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, cụ C và ông Nguyễn Văn Ú (tên thường gọi: Hai Dừa, là cha ông N) quản lý, sử dụng đến năm 1975, Công an vào lấy 04 ha đất rẫy để làm Trường C1; còn 02 ha đất ruộng, cụ C và ông Ú vẫn quản lý, sử dụng. Sau đó (thời gian cụ thể không rõ), Công an giải thể Trường C1 thì lúc ông Ú có đơn xin Công an trả lại diện tích 04 ha đất rẫy trên nhưng Công an có trả lời hay không thì ông N không biết. Đến năm 2000-2001, cha mẹ ông N chết thì cụ C chia cho các anh em của ông N diện tích thực tế còn lại khoảng hơn 02 ha, trong đó chia cho vợ chồng ông N, bà V diện tích 9.980 m², tại các thửa đất số 1789, 1790, 1791, 1813, 1814, cùng tờ bản đồ 1bK48; đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích tại các thửa đất số 51, số 61, cùng tờ bản đồ số 33 do bà H3 tranh chấp từ năm 1999 nên đến nay ông N, bà V chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo bà H3 trình bày, phần đất tranh chấp có nguồn gốc do ông Lê Thanh B nhận chuyển nhượng của Công an diện tích 02 ha là không đúng. Vì theo “Giấy giao quyền sử dụng đất ngày 07-6-1991”, không thể hiện rõ tứ cận và tại thời điểm chuyển nhượng Công an chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có thẩm quyền chuyển nhượng đất cho ông B, cho nên việc chuyển nhượng đất giữa các bên là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, ông B, bà H3 đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng của Công an cho ông Phùng Văn H2 diện tích đất 1,1 ha và ông Nguyễn Hoàng V1 diện tích đất 1,4 ha giáp đất của ông N, bà V; bà H3 không còn phần đất nào và không quản lý, canh tác phần đất tranh chấp ngày nào. Toàn bộ diện tích đất tranh chấp, gia đình ông N, bà V quản lý sử dụng ổn định liên tục trên 50 năm. Do đó, ông N, bà V không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị H1 và chị Lê Thị Kim N1 trình bày:

Các chị là con của ông Lê Thanh B và bà Nguyễn Thị H3; không có ý kiến, yêu cầu đối với yêu cầu khởi kiện của mẹ, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 249/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; đã quyết định:

4

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 147, 157, 165, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H3 đối với ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V về việc:
    1. Bà Nguyễn Thị H3 yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V trả lại cho bà Nguyễn Thị H3 diện tích 1.171,6 m², tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 52 dài 96,73 m; Hướng Tây giáp thửa đất số 53 dài các đoạn 93,35 m, 1,48 m; Hướng Nam giáp thửa đất số 61 dài 12,14 m; Hướng Bắc giáp một phần của thửa đất số 51 dài 12,40 m và yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị V chặt bỏ 138 (một trăm ba mươi tám) cây cao su 01 (một) năm tuổi trên quyền sử dụng đất trên (có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án).
    2. Bà Nguyễn Thị H3 yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V trả lại cho bà Nguyễn Thị H3 diện tích 1.128,5 m², tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 195 dài 96,05 m; Hướng Tây giáp một phần của thửa đất số 61 dài các đoạn 31,65 m, 34,30 m, 30,54 m; Hướng Nam giáp thửa đất số 80 dài 7,26 m, giáp một phần của thửa đất số 61 dài 5,49 m; Hướng Bắc giáp thửa đất số 51 dài 12,14 m (có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10-10-2024 bà Nguyễn Thị H3 kháng cáo với nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến, với nội dung: Giữ nguyên nội dung kháng cáo; không trình bày tranh luận.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến, với nội dung: Không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn; không trình bày tranh luận.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự này.

[2] Các đương sự thống nhất với Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày của Công ty Trách nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên V3 được Văn phòng đăng ký đai Chi nhánh T1 thẩm định ngày 18-7-2024, thể hiện: Phần đất tranh chấp thuộc tờ bản đồ số 33; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có diện tích bao gồm:

  • Diện tích đất 1.171,6 m², thuộc thửa số 51, có tứ cận:
    • + Hướng Đông giáp thửa đất số 52, chiều dài 96,73 m;
    • + Hướng Tây giáp thửa đất số 53, chiều dài: 93,35 m + 1,48 m;
    • + Hướng Nam giáp thửa đất số 61, chiều dài 12,14 m;
    • + Hướng Bắc giáp một phần của thửa đất số 51 dài 12,40 m.
  • Diện tích đất 1.128,5 m², thuộc thửa số 61, có tứ cận:
    • + Hướng Đông giáp thửa đất số 195, chiều dài 96,05 m;
    • + Hướng Tây giáp một phần của thửa đất số 61, chiều dài: 31,65 m + 34,30 m + 30,54 m;
    • + Hướng Nam giáp thửa đất số 80, chiều dài 7,26 m và giáp một phần của thửa đất số 61, chiều dài 5,49 m;
    • + Hướng Bắc giáp thửa đất số 51, chiều dài 12,14 m.

[3] Xem xét nguồn gốc, giấy tờ pháp lý của phần đất tranh chấp, thấy rằng:

[3.1] Các đương sự tranh chấp lần đầu vào năm 1999, quá trình giải quyết: Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2009/DS-ST ngày 15-5-2009 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tuyên: Buộc ông N, bà V có nghĩa vụ trả lại cho bà H3 phần đất diện tích 14 m x 103 m = 1.442 m²; Bản án dân sự phúc thẩm số: 111/2010/DS-PT, ngày 17-6-2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh, tuyên: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ thẩm giải

6

quyết lại; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 28/2010/QÐST-DS ngày 30-9-2010 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, do vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án vì đất tranh chấp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003. Từ năm 2010 không đương sự nào yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, kéo dài đến nay chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc Cơ quan có thẩm quyền xác định phần đất tranh chấp trên là của nguyên đơn hay của bị đơn.

[3.2] Nội dung Công văn số 3033/UBND ngày 08-8-2024 của Ủy ban nhân dân huyện T và kết quả cung cấp tài liệu, thông tin của Văn phòng Đ Chi nhánh T1, thể hiện: “Theo kiểm tra phần mềm phân hệ địa chính đất đai VNPT-ILIS, sổ địa chính, sổ theo dõi cấp giấy, sổ mục kê đo đạc năm 2013, thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33, diện tích: 1.224,3 m², mục đích sử dụng đất: HNK và thửa đất số 61, tờ bản đồ số 33, diện tích: 1.196 m², mục đích sử dụng đất: HNK; chưa cấp, cấp đổi giấy chứng nhận. Tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 do ông: Hồng Nghĩa kê khai đăng ký; không có thể hiện năm sinh, địa chỉ cụ thể, nên không biết là ai. Tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 33, do bà: Nguyễn Thị Thu H3 kê khai đăng ký; không có thể hiện năm sinh, địa chỉ cụ thể, nên không biết là ai.”. Như vậy, phần đất tranh chấp đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai và người đăng ký trong sổ mục kê năm 2013 không có căn cứ nào để xác định là nguyên đơn, là bị đơn.

[3.3] Ông Nguyễn Văn N được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22-3-2002, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 04039... QSDÐ/108/QĐ-UB(H); đối với diện tích đất 9.980 m², các thửa số: 1789, 1790, 1791, 1813, 1814; tờ bản đồ số 1bK48; toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tờ bản đồ số 1bk48 xã T theo hệ thống Bản đồ 299 thể hiện phía Tây của phần đất này giáp với thửa đất số 1792, số 1812. Tại Công văn số 512/UBND ngày 14-02-2025 của Ủy ban nhân dân huyện T: “Theo sổ mục kê tờ bản đồ số 1bk48 của hệ thống Bản đồ 299: Thửa đất số 1792 do Nông trường K48 đăng ký; thửa đất số 1812 do ông Nguyễn Hoàng V1 kê khai, đăng ký. Qua kiểm tra rà soát không truy lục được hồ sơ có liên quan đến Công an huyện H (nay là thị xã H) vào thời điểm trước và trong năm 1991 có quản lý, sử dụng đất tại vị trí thuộc thửa số 1792, thửa đất số 1812, tờ bản đồ số 1bk48. Bản đồ 299 và Bản đồ địa chính chính quy 2013 không cùng hệ toạ độ nên không thể áp bản đồ để xác định: Thửa số 51, tờ bản đồ số 33, có phải được hình thành trên cơ sở bao gồm một phần diện tích của thửa đất số 1792, tờ bản đồ 1bK48 và diện tích của đường mương (dây thông hào cũ); thửa số 61, tờ bản đồ số 33; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có phải được hình thành trên cơ sở bao gồm một phần diện tích của thửa đất số 1792, một phần diện tích của thửa đất số 1812, tờ bản đồ 1bK48 và diện tích của đường mương (dây thông hào cũ).”

7

[3.4] Toà án đã yêu cầu Công an thị xã H cung cấp thông tin và tài liệu chứng cứ để làm rõ đối với “Giấy giao quyền sử dụng đất ngày 07-6-1991" do ông Phan Văn N2 ký thừa lệnh, có đóng dấu của Công an huyện H liên quan đến nội dung: “Công an Hòa T có khai phá 4 ha đất, xây dựng trại cải tạo, điều kiện cơ quan không còn khả năng sản xuất, nay giao quyền sử dụng lại cho ông Lê Thanh B 02 ha, tứ cận: Đông giáp đất ông Hai D1; Nam giáp đất ông 7 Bình; Bắc giáp đất ông 3 Thái; Tây giáp đất ông 2 Sống. Với giá 24 chỉ vàng 24K”. Tuy nhiên, đến nay không được phản hồi.

[3.5] Từ các phân tích trên, xét thấy không có căn cứ để xác định 02 thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của Công an huyện H chuyển nhượng cho nguyên đơn.

[3.6] Nguyên đơn cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng 02 ha đất năm 1991 thì sau đó chuyển nhượng lại cho ông Phùng Văn H2 diện tích 01 ha và chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoàng V1 5.600 m², còn lại 4.400 m². Tuy nhiên, kết quả xác minh đối với ông H2, ông V1: Xác nhận có nhận chuyển nhượng đất của nguyên đơn, đất có nguồn gốc do nguyên đơn nhận chuyển nhượng của Công an huyện H; năm 1996 ông H2 đã được cấp Giấy chứng nhận diện tích 10.260,4 m² vị trí được xác định là một phần của thửa số 1792, tờ bản đồ số 1bk48; ông V1 đã được cấp Giấy chứng nhận diện tích 16.480 m². Việc nguyên đơn cho rằng mình còn lại diện tích 4.400 m² đất và hiện nay tranh chấp diện tích 2.300,1 m² là không có cơ sở, thiếu căn cứ. Ngoài ra, nộp bổ sung đơn kháng cáo nguyên đơn cung cấp bản phô tô “Tờ bán đứt đất rẫy” ngày 13-5-1994 (bút lục số 206, số 207), trong đó có nội dung ông B, bà H3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoàng V1 diện tích đất 10.898 m²; có xác nhận của địa chính xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là đất thuộc thửa số 1812, số 1792, tờ bản đồ số 1bk48; có phía Đông giáp đất của Phùng Văn H2; từ tại liệu này đã thể hiện việc vợ chồng nguyên đơn chuyển nhượng cho ông Phùng Văn H2 đất thuộc thửa số 1792 trước, sau đó chuyển nhượng toàn bộ đất còn lại của thửa số 1792 và thửa số 1812 cho ông Nguyễn Hoàng V1; do đó, bị đơn trình bày chuyển nhượng cho ông V1 5.600 m² là không đúng, mâu thuẫn với chính tài liệu mà mình cung cấp; đồng thời đã có cơ sở xác định nguyên đơn không còn diện tích đất nào tại vị trí đất tranh chấp.

[3.7] Nguyên đơn khởi kiện có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chỉ căn cứ duy nhất vào “Giấy giao quyền sử dụng đất ngày 07-6-1991” không thể hiện vị trí, kích thước, tứ cận giáp thửa đất nào để khởi kiện; nhưng không cung cấp được một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 100 Luật Đất đai 2013; cũng không có quá trình quản lý sử dụng đất tranh chấp, nội dung này được đề cập tại phần xét thấy: “Bà H3 tranh chấp với ông N2, bà V là toàn bộ diện tích ngang 14 m, dài khoảng 200 m bởi lẽ hiện tại ông N2 vẫn đang quản lý sử dụng phần đất tranh chấp...” của Bản án dân sự phúc thẩm số: 111/2010/DS-PT ngày 17-6-2010 của Toà án

8

nhân dân tỉnh Tây Ninh đã có hiệu lực pháp luật, là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[6] Bà Nguyễn Thị H3 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H3.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 249/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 147, 148, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H3 đối với ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V; đối với việc:
    1. Bà Nguyễn Thị H3 yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V trả lại diện tích 1.171,6 m², tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 52 dài 96,73 m; Hướng Tây giáp thửa đất số 53 dài các đoạn 93,35 m, 1,48 m; Hướng Nam giáp thửa đất số 61 dài 12,14 m; Hướng Bắc giáp một phần của thửa đất số 51 dài 12,40 m và yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị V chặt bỏ 138 (một trăm ba mươi tám) cây cao su 01 (một) năm tuổi trên quyền sử dụng đất trên; (có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án).
    2. Bà Nguyễn Thị H3 yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V trả lại diện tích 1.128,5 m², tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 195 dài 96,05 m; Hướng Tây giáp một phần của thửa đất số 61 dài các đoạn 31,65 m, 34,30 m, 30,54 m; Hướng Nam giáp thửa đất số 80 dài 7,26 m, giáp một phần của thửa đất số 61 dài 5,49 m; Hướng Bắc giáp thửa đất số 51 dài 12,14 m; (có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án).
  2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H3 phải chịu 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) chi phí đo đạc và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ghi nhận, bà Nguyễn Thị H3 đã nộp và đã chi xong số tiền trên.
  3. Về án phí:
    1. Bà Nguyễn Thị H3 được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
    2. Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND. TTN;
  • - TAND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 108/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger