|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/KDTM-PT
Ngày: 08/5/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Ông Lê Thọ Viên |
| Các Thẩm phán: | Ông Đào Quốc Thịnh |
| Bà Vũ Thị Hường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 4/2024/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 1 năm 2024 về vụ việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 212/2023/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 903/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 2 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X;
Địa chỉ: Tầng H, Văn phòng số L+16, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Hải N và bà Cao Hoàng L; Cùng địa chỉ: Tầng D, số B T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 291/2024/EIBA/UQ-TGĐ ngày 15/03/2024)
Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên Đ1
Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà H C T, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thùy H – Giám đốc
Địa chỉ: A Đ, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Cao Đ, sinh năm 1965
- Bà Phạm Thị Trinh N1, sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: 1 Ông Í, Phường E, Quận A, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ, bà N1: Ông Nguyễn Ngọc L1, địa chỉ: Số B P, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 00038820 ngày 08/12/2018)
- Ông Nguyễn Công H1, sinh năm: 1991; Địa chỉ: 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Trương Công H2, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị N2, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Mỹ L2, sinh năm 1967; (vắng mặt)
- Ông Phạm Thanh N3, sinh năm 1993; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : 1 Ông Í, Phường E, Quận A, TP ..
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại cổ phần X (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đ1, tên gọi cũ là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên D (Sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) và ông bà Nguyễn Cao Đ, Phạm Thị Trinh N1 có ký hợp đồng tín dụng số 2104–LAV-201400731 ngày 04/10/2014; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 01 ngày 09/01/2015; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 02 ngày 31/07/2015 theo đó Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho Công ty Đ1 vay số tiền 16.000.000.000 đồng (mười sáu tỷ đồng) hoặc ngoại tệ tương đương, mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn vay không quá 09 tháng và được ghi cụ thể tại khế ước nhận nợ kể từ ngày giải ngân, trả nợ gốc cuối kỳ, lịch trả lãi vào ngày 15 hàng tháng, lãi suất cho vay 5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền vay cho Công ty Đ1 theo 14 khế ước nhận nợ với tổng số tiền đã giải ngân 646.509USD và 1.977.125.500 đồng. Để đảm bảo khoản vay của Công ty Đ1, ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 đã dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thế chấp cho Ngân hàng cụ thể là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015 và Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty Đ1 đã trả được số tiền gốc 44.840USD và 580.000.000 đồng, trả lãi được 6.767,22USD và 19.903.996 đồng. Sau đó do Công ty Đ1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 05/10/2015. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu Công ty Đ1 trả nợ tuy nhiên Công ty Đ1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Ngân hàng yêu cầu Công ty Đ1 trả số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2023 là 958.848,72 USD, trong đó nợ gốc: 601.669 USD, lãi trong hạn: 4.775,72 USD, lãi quá hạn: 352.404 USD và 3.009.610.308 đồng, trong đó nợ gốc: 1.397.125.500 đồng, lãi trong hạn: 11.224.243 đồng, lãi quá hạn: 1.601.260.565 đồng. Tổng số tiền nợ quy đổi Việt Nam đồng theo tỷ giá 24.500 đồng/USD là 26.501.403.948 đồng. Ngân hàng yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi Công ty Đ1 thanh toán xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký.
Trường hợp Công ty Đ1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể: Phát mãi tài sản là nhà đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 để thu hồi khoản nợ tương ứng số tiền nợ gốc là 4.758.000.000 đồng (quy đổi sang ngoại tệ tương đương tại thời điểm giải ngân là 218.660,27 USD) và tiền lãi tính đến ngày 27/9/2023 trên số tiền nợ gốc gồm lãi trong hạn: 1.691,17 USD, lãi quá hạn: 118.432,22 USD. Phát mãi tài sản là nhà đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 để thu hồi khoản nợ tương ứng số tiền nợ gốc là 3.312.000.000 đồng (quy đổi sang ngoại tệ tương đương tại thời điểm giải ngân là 152.393,16 USD) và tiền lãi tính đến ngày 27/9/2023 trên số tiền nợ gốc gồm lãi trong hạn: 1.175,22 USD, lãi quá hạn: 82.300,35 USD. Tổng dư nợ tương đương nghĩa vụ bảo đảm của cả hai tài sản nêu trên là 574.652,39USD quy đổi Việt Nam đồng theo tỷ giá 24.500 đồng/USD là 14.078.983.555 đồng. Trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ để thu hồi nợ thì yêu cầu bị đơn có trách nhiệm tiếp tục trả số nợ còn lại. Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả.
Bị đơn Công ty Đ1 vắng mặt không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên chưa ghi nhận được ý kiến.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 là trình bày:
Ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 xác nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 2104–LAV-201400731 ngày 04/10/2014; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 01 ngày 09/01/2015; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 02 ngày 31/07/2015 với Ngân hàng TMCP X và Công ty Đ1. Nội dung hợp đồng đúng như người đại diện của Ngân hàng trình bày. Ông Đ và bà N1 cũng xác nhận có ký Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015 với nội dung thế chấp Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông bà để bảo đảm cho khoản vay của Công ty Đ1 tại Ngân hàng, nghĩa vụ bảo đảm là 4.758.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương. Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015 với nội dung thế chấp Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông bà để bảo đảm cho khoản vay của Công ty Đ1 tại Ngân hàng, nghĩa vụ bảo đảm là 3.312.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương. Tổng nghĩa vụ bảo đảm của ông Đ và bà N1 cho khoản vay của Công ty Đ1 tại Ngân hàng là 8.070.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu Công ty Đ1 trả nợ thì ông Đ và bà N1 không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án không triệu tập được bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại quan hệ tranh chấp của vụ án. Vì Công ty Đ1 sau khi được ngân hàng giải ngân số tiền nêu trên đã sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Theo các khế ước nhận nợ đã ký thì mục đích vay vốn để thanh toán tiền mua hàng nhưng ngân hàng lại giải ngân trực tiếp vào tài khoản của Công ty Đ1, lẽ ra phải được giải ngân cho người bán hàng, theo từng đơn hàng. Người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1 là bà Nguyễn Thị Thùy H đã có hành vi lợi dụng việc ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp sau đó bỏ trốn chiếm đoạt toàn bộ số tiền vay từ ngân hàng, có dấu hiệu vi phạm hình sự. Đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ vụ án sang cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm hình sự của Công ty Đ1. Do chưa chứng minh được việc bị đơn mất khả năng thanh toán theo Điều 361 của Bộ luật dân sự năm 2005 nên chưa phát sinh nghĩa vụ bảo đảm. Do đó ông Đ và bà N1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với nghĩa vụ bảo đảm, căn cứ Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, nghĩa vụ bảo đảm của ông Đ và bà N1 trong mọi trường hợp là 4.758.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương. Căn cứ Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, nghĩa vụ bảo đảm tại mọi thời điểm là 3.312.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương. Như vậy nghĩa vụ bảo đảm của ông Đ và bà N1 cho khoản vay của Công ty Đ1 tại Ngân hàng chỉ trong phạm vi số tiền 8.070.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương.
Đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ, ông Đ và bà N1 không đồng ý, ông bà đề nghị được làm việc với Ngân hàng TMCP X để rút lại tài sản bảo đảm. Nếu không thống nhất được phương án giải quyết, đề nghị Tòa án giải quyết phát mãi trong phạm vi bảo đảm số tiền là 8.070.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 212/2023/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X;
Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên Đ1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X số tiền 958.848,72 USD (chín trăm năm mươi tám ngàn tám trăm bốn mươi tám phẩy bảy mươi hai đô la Mỹ) và 3.009.610.308 đồng (ba tỷ không trăm lẻ chín triệu sáu trăm mười ngàn ba trăm lẻ tám đồng). Tổng số tiền quy đổi Việt Nam đồng theo tỷ giá 24.500 đồng/USD là 26.501.403.948 (hai mươi sáu tỷ năm trăm lẻ một triệu bốn trăm lẻ ba ngàn chín trăm bốn mươi tám) đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 2104–LAV-201400731 ngày 04/10/2014 và Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 01 ngày 09/01/2015. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH MTV Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
Ngay khi Công ty TNHH MTV Đ1 trả hết số tiền nợ gốc 371.053,43 USD và tiền lãi trên số tiền nợ gốc này thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X có trách nhiệm giải chấp tài sản bảo đảm và trả lại cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015045, số vào sổ cấp GCN: CH00502 do U cấp ngày 09/3/2011 cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 và các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp. Trả lại cho bà Phạm Thị Trinh N1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137434, số vào sổ cấp GCN: CH02282 do U cấp ngày 28/11/2013 cho bà Phạm Thị Trinh N1 và các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp.
Trường hợp Công ty TNHH MTV Đ1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp sau:
- +Nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015045, số vào sổ cấp GCN: CH00502 do U cấp ngày 09/3/2011 cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 trong phạm vi bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015.
- + Nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137434, số vào sổ cấp GCN: CH02282 do U cấp ngày 28/11/2013 cho bà Phạm Thị Trinh N1 trong phạm vi bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH MTV Đ1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X1 thì Công ty TNHH MTV Đ1 có trách nhiệm tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong nợ.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 134.501.403 (một trăm ba mươi bốn triệu năm trăm lẻ một ngàn bốn trăm lẻ ba) đồng. H3 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền 28.421.826 (Hai mươi tám triệu bốn trăm hai mươi mốt ngàn tám trăm hai mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010596 ngày 08/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV Đ1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền chi phí xem xét, thẩm định 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 04/10/2023, Ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Bác yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Đ và bà N1 phải có trách nhiệm trả tiền cho ngân hàng theo hợp đồng bảo lãnh cho Công ty TNHH MTV Đ1 vay tiền và phát mãi tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số A và 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ và bà N1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị không chấp yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 ; Án sơ thẩm giải quyết giải quyết tranh chấp là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 làm trong hạn luật định nên chấp nhận.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 có đủ căn cứ để xác định:
Ngày 04/10/2014 Ngân hàng Thương mại cổ phần X với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đ1 và ông bà Nguyễn Cao Đ, Phạm Thị Trinh N1 có ký hợp đồng tín dụng số 2104–LAV-201400731 ngày 04/10/2014; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 01 ngày 09/01/2015; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 02 ngày 31/07/2015. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho Công ty Đ1 vay số tiền 16.000.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương, mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn vay không quá 09 tháng và được ghi cụ thể tại từng khế ước nhận nợ kể từ ngày giải ngân, trả nợ gốc cuối kỳ, lịch trả lãi vào ngày 15 hàng tháng, lãi suất cho vay 5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền vay cho Công ty Đ1 theo 14 khế ước nhận nợ với tổng số tiền đã giải ngân 646.509USD và 1.977.125.500 đồng. Công ty Đ1 đã trả được số tiền gốc 44.840USD và 580.000.000 đồng, trả lãi được 6.767,22USD và 19.903.996 đồng. Sau đó do Công ty Đ1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 05/10/2015.
Dư nợ tạm tính đến ngày 27/9/2023 là 958.848,72 USD, trong đó nợ gốc: 601.669 USD, lãi trong hạn: 4.775,72 USD, lãi quá hạn: 352.404 USD và 3.009.610.308 đồng, trong đó nợ gốc: 1.397.125.500 đồng, lãi trong hạn: 11.224.243 đồng, lãi quá hạn: 1.601.260.565 đồng. Tổng số tiền nợ quy đổi Việt Nam đồng theo tỷ giá 24.500 đồng/USD là 26.501.403.948 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền 26.501.403.948 đồng nêu trên và Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Phần này các đương sự không kháng cáo nên phát sinh hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 về việc không đồng ý phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ:
Căn cứ Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015, đã được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 023437; Quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký tài sản bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 31/7/2015, số 1256. Theo đó ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 đồng ý thế chấp tài sản là nhà đất tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015045, số vào sổ cấp GCN: CH00502 do U cấp ngày 09/3/2011 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1, để bảo đảm đối với khoản nợ gốc của Công ty Đ1 (chưa bao gồm lãi, tiền phạt, phí và các chi phí có liên quan khác) tại mọi thời điểm là 4.758.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương.
Căn cứ Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014, Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015, đã được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 023438; Quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký tài sản bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 31/7/2015, số 1255. Theo đó ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 đồng ý thế chấp tài sản là nhà đất tại số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137434, số vào sổ cấp GCN: CH02282 do U cấp ngày 28/11/2013 cho bà Phạm Thị Trinh N1, để bảo đảm khoản nợ gốc của Công ty Đ1 (chưa bao gồm lãi, tiền phạt, phí và các chi phí có liên quan khác) tại mọi thời điểm là 3.312.000.000 đồng hoặc ngoại tệ tương đương.
Hợp đồng thế chấp tài sản do các bên tự nguyện ký đã thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do Công ty Đ1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gốc và tiền lãi trên số tiền nợ gốc. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể, đối với tài sản là nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thu hồi nợ gốc 4.758.000.000 đồng (tương đương 218.660,27 USD) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc. Tài sản là nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thu hồi nợ gốc 3.312.000.000 đồng (tương đương 152.393,16 USD) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc theo các hợp đồng đã ký là có căn cứ, không vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm nên yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 không có cơ sở để chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và phát mãi tài sản thế chấp trong phạm vi bảo đảm với số tiền cụ thể để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng với quy định thỏa thuận tại các hợp đồng mà các bên ký kết. Tuy nhiên tại phần quyết định của án sơ thẩm cần bổ sung thêm điều khoản của các hợp đồng thế chấp để xác định phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm vào phần quyết định cho đầy đủ để đảm bảo việc thi hành án.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 phải chịu 2.000.000 đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X;
Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên Đ1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X số tiền 958.848,72 USD (chín trăm năm mươi tám ngàn tám trăm bốn mươi tám phẩy bảy mươi hai đô la Mỹ) và 3.009.610.308 đồng (ba tỷ không trăm lẻ chín triệu sáu trăm mười ngàn ba trăm lẻ tám đồng). Tổng số tiền quy đổi Việt Nam đồng theo tỷ giá 24.500 đồng/USD là 26.501.403.948 (hai mươi sáu tỷ năm trăm lẻ một triệu bốn trăm lẻ ba ngàn chín trăm bốn mươi tám) đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 2104–LAV-201400731 ngày 04/10/2014 và Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng lần 01 ngày 09/01/2015. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH MTV Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
Ngay khi Công ty TNHH MTV Đ1 trả hết số tiền nợ gốc 371.053,43 USD và tiền lãi trên số tiền nợ gốc này thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X có trách nhiệm giải chấp tài sản bảo đảm và trả lại cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015045, số vào sổ cấp GCN: CH00502 do U cấp ngày 09/3/2011 cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 và các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp. Trả lại cho bà Phạm Thị Trinh N1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137434, số vào sổ cấp GCN: CH02282 do U cấp ngày 28/11/2013 cho bà Phạm Thị Trinh N1 và các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp.
Trường hợp Công ty TNHH MTV Đ1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp sau:
- + Nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015045, số vào sổ cấp GCN: CH00502 do U cấp ngày 09/3/2011 cho ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 trong phạm vi bảo đảm theo khoản 2 Điều 1 Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014 và Các nội dung sửa đổi, bổ sung về nghĩa vụ được bảo đảm quy định tại Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015.
- + Nhà đất tại địa chỉ 1 Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137434, số vào sổ cấp GCN: CH02282 do U cấp ngày 28/11/2013 cho bà Phạm Thị Trinh N1 trong phạm vi bảo đảm theo khoản 2 Điều 1 Hợp đồng thế chấp số 64/2014/HĐBL/KHDN-EIBQ3 ngày 04/10/2014 và Các nội dung sửa đổi, bổ sung về nghĩa vụ được bảo đảm quy định tại Hợp đồng sửa đổi bổ sung lần 01 hợp đồng thế chấp ngày 31/07/2015.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH MTV Đ1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X1 thì Công ty TNHH MTV Đ1 có trách nhiệm tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong nợ.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 134.501.403 (một trăm ba mươi bốn triệu năm trăm lẻ một ngàn bốn trăm lẻ ba) đồng. H3 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền 28.421.826 (Hai mươi tám triệu bốn trăm hai mươi mốt ngàn tám trăm hai mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010596 ngày 08/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh.
Chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV Đ1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền chi phí xem xét, thẩm định 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Cao Đ và bà Phạm Thị Trinh N1 phải chịu 2.000.000 đồng được trừ vào Biên lai thu số AA/2023/0023730 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thọ Viên |
Bản án số 108/2024/KDTM-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 108/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
