TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-ST Ngày 15 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Đặng Văn Ẩn
2. Ông Vũ Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/TLST/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trì Trung T; giới tính: Nam; sinh năm 1991, tại tỉnh Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; họ tên cha: Trì Ngọc M; họ tên mẹ: Trần Thị Mỹ T1; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 31/7/2023 (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Đình H, sinh năm 2000. (vắng mặt)
Địa chỉ: I N, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Mai Văn T2, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: A T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Phước K, sinh năm 2001. (vắng mặt)
Địa chỉ: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Phạm Đình P, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Địa chỉ: I N, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 31/7/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý kết hợp với Công an xã B tiến hành kiểm tra căn hộ M, MP8 -19.07 khu nhà ở N, ấp C, xã B, huyện B do Trì Trung T là người thuê để ở. Tại thời điểm kiểm tra có mặt T, Mai Văn T2, Nguyễn Phước K và Phạm Đình H. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trên đầu tủ để đồ trong phòng ngủ có 01 ly thuỷ tinh bên trong có chất lỏng màu đỏ, tiếp tục kiểm tra trong phòng ngủ căn hộ thì phát hiện trên bàn có 02 đĩa sứ màu trắng bên trong đó có tinh thể nhuyễn màu trắng. Qua làm việc, T khai nhận số chất lỏng màu đỏ là “nước vui”, số tinh thể nhuyễn màu trắng trong 02 dĩa sứ màu trắng là “ma tuý khay” mà T, T2, K và H sử dụng còn lại. Do đó, Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trì Trung T, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng và đưa T2, K và H về trụ sở làm việc. Kết quả xét nghiệm, T, T2, K và H đều dương tính với ma tuý loại Ketamine.
Kết luận giám định số 8409/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H xác định:
- Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,6829 gam, loại Ketamine.
- Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1803 gam, loại Ketamine (thu giữ trên đĩa).
- Chất lỏng màu đỏ thu giữ trong 01 chai nhựa có thể tích 220ml, không tìm thấy ma tuý. (BL 54-55)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Trì Trung T khai nhận: Vào chiều ngày 30/7/2023, T nhắn tin qua Messenger rủ bạn gồm Mai Văn T2, Nguyễn Phước K và Phạm Đình H đến nơi ở của T tại căn hộ M, MP8 - 19.07 khu nhà ở N, ấp C, xã B, huyện B để sử dụng ma tuý thì cả 03 đồng ý. Khoảng hơn 22 giờ ngày 30/7/2023, K, H, T2 có mặt tại nhà T để ăn uống. Đến khoảng hơn 23 giờ ngày 30/7/2023, T lấy ma túy khay, 02 viên thuốc lắc và nước vui mà T đã mua, cất giữ sẵn ra; T để ma túy khay trên 02 đĩa sứ, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn, chia thành nhiều phần, đồng thời pha nước vui cho cả nhóm sử dụng. T sử dụng ½ viên thuốc lắc, hít khoảng 06 đường khay, uống một ít nước vụi; T2 sử dụng ½ viên thuốc lắc, nước vui và khay; K sử dụng ½ viên thuốc lắc, khay và nước vui; H sử dụng ½ viên thuốc lắc và khay. Việc T cho cả nhóm sử dụng ma túy là miễn phí. Đồng thời, T khai nguồn gốc số ma tuý trên là do T mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0765.577.xxx) với giá 3.500.000 đồng vào khoảng 10 ngày trước tại bãi giữ xe chung cư M. (BL 77-84).
Lời khai của Mai Văn T2, Nguyễn Phước K và Phạm Đình H phù hợp với lời khai của Trì Trung T. Cả 03 người đều khai là được T cho sử dụng ma túy mà không phải trả tiền. (BL 95-100, 104-106, 118-125, 138-143).
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ tròn).
- 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ hình chữ nhật).
- 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong chứa chất lỏng màu đỏ (được thu giữ trong ly thủy tinh).
- 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn.
- 01 đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật.
- 01 thẻ nhựa màu đen có chữ “THẺ BẢO HÀNH”.
- 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ “TRỊ TRUNG TOAN”.
- 01 ống giấy hình trụ.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím 1T, bên trong có 01 sim số 0915551508 thu giữ của Trì T, sử dụng để liên lạc mua ma túy và rủ tới sử dụng ma tuý.
- 01 ly thủy tinh.
- 01 vỏ lon nhôm màu đỏ, có chữ “STING”.
- 01 loa hiệu JBL; 01 đèn led màu đen.
- 01điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số IMEI1: 359871975916017, số IMEI2: 35987197591601 cùng sim số 0773826068 thu giữ của Phạm Đình H.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, IMEII 356713110317110, số IMEI2: 356713110963319 thu giữ của Nguyễn Phước K.
- 01 điện thoại di động Iphone XS Max, số seri: F2LY43GLKPHF, cùng sim số 070.659.8xxx thu giữ của Mai Văn T2.
- 01 xe mô tô biển số 59L1-375.80 do Phạm Đình P đứng tên chủ sở hữu. Ngày 30/7/2023, ông P cho con ruột là Phạm Đình H mượn xe để đi chơi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả xe cho ông P. (BL 159-161)
- 01 xe mô tô biển số 83P4-212.13 do ông Nguyễn Phương B đứng tên chủ sở hữu. Ông B cho biết bản thân chỉ đứng tên sở hữu giùm cho con ruột là Nguyễn Phước K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả xe cho Nguyễn Phước K. (BL 162-164)
Trong số các vật chứng nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh lưu giữ, chờ xử lý. (BL 172-174)
Cáo trạng số 112/CT-VKSBC ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trì Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 31/7/2023, bị cáo Trì Trung T có hành vi tổ chức cho Mai Văn T2, Nguyễn Phước K và Phạm Đình H sử dụng trái phép chất ma túy khay, thuốc lắc và nước vui thì bị bắt quả tang tại căn hộ M, MP8 - 19.07 khu nhà ở N, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên”), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo là người điện thoại rủ T2, K và H đến tại Căn hộ M, MP8 - 19.07 khu nhà ở N, ấp C, xã B, huyện B và tự bỏ tiền ra mua ma túy tổ chức cho các đối tượng trên cùng sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Đối với Mai Văn T2, Nguyễn Phước K và Phạm Đình H đã có hành vi sử dụng ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều trả Công an huyện B đã bàn giao cho Công an xã B xử lý theo quy định. Công an xã B đã ra Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn T2; ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đới với Nguyễn Phước K và Phạm Đình H.
Đối với người đã bán ma túy cho T, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục truy xét, khi nào xác định được lai lịch thì làm rõ và xử lý sau.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ tròn) là loại Ketamine còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ hình chữ nhật) là loại Ketamine còn lại sau giám định; 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong chứa chất lỏng màu đỏ (được thu giữ trong ly thủy tinh) không tìm thấy ma túy; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật; 01 thẻ nhựa màu đen có chữ “THẺ BẢO HÀNH”; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ “TRỊ TRUNG TOAN”; 01 ống giấy hình trụ; 01 ly thủy tinh; 01 vỏ lon nhôm màu đỏ, có chữ “STING”; 01 đèn led màu đen. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím 1T, bên trong có 01 sim số 0915551508 thu giữ của Trì T sử dụng liên hệ mua ma túy và sử dụng để liên lạc với K, H, T2 đến sử dụng ma túy và 01 loa hiệu JBL.
- Trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số IMEI1: 359871975916017, số IMEI2: 35987197591601 cùng sim số 0773826068 thu giữ của Phạm Đình H; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, IMEII 356713110317110, số IMEI2: 356713110963319 thu giữ của Nguyễn Phước K; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, số seri: F2LY43GLKPHF, cùng sim số 070.659.8xxx thu giữ của Mai Văn T2.
- 01 xe mô tô biển số 59L1-375.80 do Phạm Đình P đứng tên chủ sở hữu. Ngày 30/7/2023, ông P cho con ruột là Phạm Đình H mượn xe để đi chơi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả xe cho ông P. Hội đồng xét xử không xét.
- 01 xe mô tô biển số 83P4-212.13 do ông Nguyễn Phương B đứng tên chủ sở hữu. Ông B cho biết bản thân chỉ đứng tên sở hữu giùm cho con ruột là Nguyễn Phước K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả xe cho Nguyễn Phước K. Hội đồng xét xử không xét.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án. Tuy nhiên, Đại diện viện kiểm sát đề nghị múc hình phạt từ 07 (bảy) đền H1 (tám) năm tù là chưa tương xứng với hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử cũng ghi nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trì Trung T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.
* Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật; 01 thẻ nhựa màu đen có chữ “THẺ BẢO HÀNH”; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ “TRỊ TRUNG TOAN”; 01 ống giấy hình trụ; 01 ly thủy tinh; 01 vỏ lon nhôm màu đỏ, có chữ “STING”; 01 đèn led màu đen; 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ tròn) là loại Ketamine còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong, bên trong có 01 túi nylon chứa tinh thể nhuyễn màu trắng (được thu giữ trong đĩa sứ hình chữ nhật) là loại Ketamine còn lại sau giám định; 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong chứa chất lỏng màu đỏ (được thu giữ trong ly thủy tinh) không tìm thấy ma túy: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím 1T, bên trong có 01 sim số 0915551508 thu giữ của Trì Trung Toàn và 01 loa hiệu JBL.
- Trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số IMEI1: 359871975916017, số IMEI2: 35987197591601 cùng sim số 0773826068 thu giữ của Phạm Đình H; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, IMEII 356713110317110, số IMEI2: 356713110963319 thu giữ của Nguyễn Phước K; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, số seri: F2LY43GLKPHF, cùng sim số 070.659.8xxx thu giữ của Mai Văn T2.
(Các vật chứng nêu trên đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/3/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)
* Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trì Trung Toàn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
