|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền và ông Nguyễn Văn Thanh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thanh P, sinh năm 1989 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Đ (chết) và bà Trịnh Thị H;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-6-2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C (có mặt).
Bị hại: Ông Trịnh Văn Đ1, sinh năm 1962; nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1974; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1978; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29-6-2024 tại quán nước của ông Trịnh Văn Đ1 thuộc tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, Trần Thanh P phát hiện ông Đ1 đang say rượu trên cổ có đeo sợi dây chuyền nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng lúc ông Đ1 mất cảnh giác, P áp sát dùng 02 tay nắm sợi dây chuyền của ông Đ1 giật mạnh làm sợi dây chuyền đứt làm đôi, P cầm lấy sợi dây chuyền và nhanh chóng tẩu thoát, ông Đ1 đuổi theo và truy hô nhưng không bắt kịp P. P bỏ chạy đến công trình nơi P đang làm phụ hồ gần đó, giả vờ hỏi mượn xe mô tô biển số 54H4-7500 của Lê Thanh H1 để đi mua thuốc thì H1 đồng ý. P điều khiển xe mô tô đến khu dân cư B thì bị ông Nguyễn Quốc T (người cùng xóm với ông Đ1) yêu cầu dừng xe và gạn hỏi thì P thừa nhận đã giật sợi dây chuyền của ông Đ1, P đưa sợi dây chuyền lại cho ông T, lợi dụng lúc ông T đang kiểm tra sợi dây chuyền P nhanh chóng điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Đến ngày 30-6-2024, P đến Công an phường N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 sợi dây chuyền vàng 24kara, trọng lượng 09 chỉ 09 phân 8,4 ly, dài 61cm, kiểu chữ cong ống, phần khoen bị gãy rời; 01 mặt dây chuyền vàng 24 kara, trọng lượng 02 chỉ 02 phân 7,4 ly, kiểu mặt phật ông địa, kích thước 3,5cm x 3,1cm (đã trao trả lại cho ông Trịnh Văn Đ1); quần, áo, dép của bị cáo.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 1709/KL-ĐG ngày 03-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 sợi dây chuyền vàng 24kara, trọng lượng 09 chỉ 09 phân 8,4 ly, dài 61cm, kiểu chữ cong ống, phần khoen bị gãy rời, trị giá 73.731.840 đồng; 01 mặt dây chuyền vàng 24 kara, trọng lượng 02 chỉ 02 phân 7,4 ly, kiểu mặt phật ông địa, kích thước 3,5cm x 3,1cm, trị giá 16.793.490 đồng. Tổng giá trị 90.525.330 đồng (bút lục số 28).
Tại Cáo trạng số: 90/CT-VKSCĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Trần Thanh P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Xác định khi đưa sợi dây chuyền cho ông T để ông T trả lại cho bị hại tự nguyện sữa chữa việc làm sai trái của mình. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: đối với 01 sợi dây chuyền vàng 24 kara và 01 mặt dây chuyền vàng 24 kara đã trao trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết lại; đối với quần, áo, dép thu giữ của bị cáo Trần Thanh P không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi mẹ già vì gia đình chỉ có bị cáo và mẹ, hiện mẹ cũng đang bị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các biên bản xác minh, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29-6-2024, tại quán nước của ông Trịnh Văn Đ1 thuộc tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Trần Thanh P đã có hành vi dùng 02 tay nắm sợi dây chuyền của bị hại Trịnh Văn Đ1 giật mạnh làm sợi dây chuyền đứt làm đôi, bị cáo giữ lấy sợi dây chuyền rồi nhanh chóng tẩu thoát, tổng giá trị tài sản là 90.525.330 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thanh P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra bị cáo phải lao động tích cực để nuôi sống bản thân, gia đình và giúp ích cho xã hội. Nhưng chỉ vì muốn có tiền mà không cần phải lao động, bị cáo đã có hành vi cố ý cướp giật tài sản của người khác. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao trả lại tài sản để khắc phục hậu quả; thuộc thành phần lao động nghèo, là lao động chính trong gia đình (là con duy nhất, nuôi mẹ già); trong thời gian làm bảo vệ dân phố cũng công tác tốt không vi phạm pháp luật; bị tại nạn giao thông chấn thương sọ não nên tinh thần cũng bị ảnh hưởng phản ứng chậm chạp; không có tiền án, tiền sự; Đồng thời, người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh P.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 24 kara và 01 mặt dây chuyền vàng 24 kara, quá trình điều tra đã xử lý giao trả cho bị hại Trịnh Văn Đ1, nay bị hại
không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Đối với quần, áo, dép là trang phục của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản";
Xử phạt Trần Thanh P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30-6-2024).
-
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy quần, áo, dép thu giữ của bị cáo Trần Thanh P (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
-
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Thanh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS TRẦN THANH PHƯƠNG - CGTS
