Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 20/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Khánh
Bà Dương Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Đắc C, sinh 1998 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện M, Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đắc M và bà Võ Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc H1 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

  • -Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1991, vắng mặt
  • Nơi cư trú: Số E đường T, phường Q, quận T, Hà Nội.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • -Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983, vắng mặt
  • Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội.
  • -Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994, vắng mặt
  • Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h ngày 23/4/2024, Lương Đắc C sử dụng tài khoản “ Đăng Khôi” lên mạng xã hội Facebook thấy bài đăng của anh Nguyễn Văn H2 mang tên tài khoản “ Hoàng N” với nội dung đăng bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB với giá 22.500.000đ. Thấy vậy, C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại, C sử dụng tài khoản Facebook “Đăng Khôi” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook “H” để thỏa thuận mua bán điện thoại. Sau khi thỏa thuận giá mua bán chiếc điện thoại trên là 22.500.000 đồng, C hẹn gặp anh H2 để giao dịch mua bán điện thoại tại Cổng A Khu công nghiệp B ở thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Sau đó, C sử dụng tài khoản Zalo tên “Lương C” nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Hoàng N” của anh H2, gửi hình ảnh căn cước công dân của C và gửi vị trí giao dịch. Anh H2 yêu cầu C chuyển khoản đặt cọc 50.000 đồng và 152.000 đồng tiền taxi cho anh H2 đi đến địa điểm giao dịch, C đồng ý. C chuyển khoản 02 lần (01 lần 50.000 đồng và 01 lần 152.000 đồng) cho anh H2. Sau khi nhận được tiền, anh H2 bắt xe taxi đi đến cổng chung cư CT4 ở thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội để gặp C. C đi ra cổng chung cư CT4 gọi điện đến tổng đài hãng taxi 123 để đặt xe đón ở chung cư CT4. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, anh H2 đến cổng chung cư CT4 gặp C thì C bảo anh H2 cùng C đi về nhà để C kiểm tra điện thoại. Anh H2 đồng ý rồi cùng lên xe taxi 123 do anh Phan Văn C1 điều khiển. Sau khi lên xe, C bảo anh C1 điều khiển xe đến thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Trên đường đi, C bảo anh H2 đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng, dung lượng 128GB cho C kiểm tra, anh H2 đồng ý và đưa điện thoại cho C. Khi anh C1 điều khiển xe taxi đi đến xóm C, thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, C bảo dừng xe. Khi xe taxi vừa dừng lại, C dùng tay trái cầm điện thoại, tay phải mở cửa xe taxi xuống xe rồi C bỏ chạy hướng về đồng ruộng xóm C, thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Thấy C bỏ chạy, anh H2 và anh C1 xuống xe đuổi theo nhưng không đuổi theo được C. Ngày 24/04/2024 anh H2 đến Công an xã T trình báo sự việc.

Sau khi cướp giật được chiếc điện thoại, C đi bộ qua đường đồng lên đê Sông H rồi đi đến thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngủ tại gầm cầu K. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/04/2024, C mang chiếc điện thoại di động trên đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Văn H3 cầm cố được 16.000.000 đồng. Anh H3 chuyển khoản cho C số tiền 16.000.000 đồng. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/04/2024, C quay lại cửa hàng cầm đồ của anh H3 hỏi bán chiếc điện thoại nhưng anh H3 không đồng ý mua. Sau đó, C hỏi mượn điện thoại đã cầm cố cho anh H3 mang sang cửa hàng điện thoại di động của anh Nguyễn Tuấn A để bán thì anh H3 đồng ý cùng C sang quán điện thoại. Sau khi kiểm tra điện thoại, anh Tuấn A đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 20.000.000 đồng. Anh Tuấn A1 chuyển khoản cho anh H3 số tiền 16.480.000 đồng trong đó 16.000.000 đồng là tiền cầm cố điện thoại và 480.000 đồng là tiền C trả công cho anh H3 dẫn sang bán điện thoại. Còn lại số tiền 3.520.000 đồng anh Tuấn A1 chuyển khoản cho C. Số tiền trên, C đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 31/5/2024, Lương Đắc C đến Công an huyện M đầu thú. Tại cơ quan điều tra, Lương Đắc C đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu vàng, dung lượng 128GB, số Seri: GYVJD6VTX4, số IMEI: 358457884758913 đã qua sử dụng có trị giá 21.500.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn H3: Quá trình điều tra xác định, anh H3 kinh doanh cầm đồ có giấy phép kinh doanh do UBND huyện Đ cấp. Anh H3 nhận cầm cố chiếc điện thoại của Lương Đắc C trong tình trạng điện thoại không khóa màn hình, không đăng nhập I. Khi nhận cầm cố, anh H3 không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Tuấn A quá trình điều tra xác định: Ngày 25/04/2024, anh Nguyễn Tuấn A nhận mua điện thoại di động của Lương Đắc C trong tình trạng điện thoại không khóa màn hình, không đăng nhập I. Khi mua điện thoại, anh Tuấn A không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật. Sau khi mua điện thoại của C, anh Tuấn A đã bán lại cho một người khách không biết rõ tên tuổi, địa chỉ nên không thu hồi được.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người bị hại là anh Nguyễn Văn H2 trình bày tại BL 110-118: Anh H2 xác nhận nội dung sự việc như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo C đã bồi thường cho anh trị giá chiếc điện thoại không thu hồi được với số tiền 22.000.000đ. Do vậy anh không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và anh có đơn đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H3 trình bày tại BL 131-134: Anh H3 xác nhận sự việc như nội dung vụ án đã tóm tắt trên . Khi nhận cầm cố tài sản anh không biết đó là tài sản do C phạm tội mà có. Số tiền 16.000.000₫ anh đưa cho C, anh đã được C trả lại nên anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tuấn A trình bày tại BL 140-143: Anh Tuấn A1 xác nhận sự việc như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Khi C đi cùng anh H3 sang bán chiếc điện thoại Iphone 14 Promax anh không biết điện thoại đó do C phạm tội mà có nên anh đã đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 20.000.000đ. Sau khi mua điện thoại anh đã bán lại cho người không quen biết. Do vậy đến nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Bản cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố Lương Đắc C, về tội “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : khoản 1 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lương Đắc C mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại thu giữ của bị cáo C.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 23h15' ngày 23/4/2024 tại khu vực thôn Đ, xã T, huyện M, Hà Nội, Lương Đắc C đã có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax của anh Nguyễn Văn H2 có trị giá 21.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Căn cứ vào tính chất vụ án, loại tội bị cáo vi phạm thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên xét hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra giữa người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong phần bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5]. Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M có thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Iphone 6. Xét chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Lương Đắc C 20 (hai mươi) tháng tù, về tội “ Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2024.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 (Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Mê Linh.
  • -Chi cục THADS huyện Mê Linh.
  • -Công an huyện Mê Linh.
  • -Tòa án Hà Nội.
  • -VKSND TP.Hà Nội.
  • -Trại giam Hà Nội.
  • -Bị cáo .
  • -Đương sự.
  • -Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Đắc Cường có hành vi cướp giật
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger