|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-ST
Ngày: 05/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Tám.
- Bà Huỳnh Thị Như Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa có: Bà Huỳnh Tiểu My, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thanh T; Giới tính: Nữ.
- - Tên gọi khác: L.
- - Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1989 tại tỉnh Tiền Giang;
- - Nơi thường trú: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang
- - Số CCCD: [...] ; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH.
- - Nghề nghiệp: Viên chức;
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- - Trình độ học vấn: Lớp 12/12.
* Quan hệ gia đình:
- - Cha: Phạm Thanh T1, sinh năm 1969. Hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ.
- - Mẹ: Tiêu Yến P (đã chết).
- - Bị cáo là con duy nhất trong gia đình
- - Chồng: Lê Thanh P1, sinh năm 1995.
- - Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2017.
* Đặc điểm nhân thân:
- - Từ nhỏ sống cùng với gia đình tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- - Năm 2013, lập gia đình chuyển đến sống tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến năm 2019 ly hôn.
- - Năm 2023, kết hôn với anh Lê Thanh P1, sống tại xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Đến ngày 26/5/2024 chuyển đến sinh sống tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang cho đến ngày phạm tội.
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 26/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo T:
- Anh Lê Thanh P1, sinh năm: 1995 (có mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị Ngọc H – Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Thanh P1, sinh năm: 1995 (có mặt).
- Ông Lê Văn Á, sinh năm 1965 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh T2 và Lê Thanh P1, sinh ngày 15/10/1995 cùng thường trú ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang là vợ chồng, sau khi kết hôn, cả hai đến thuê nhà trọ tháng tại xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để ở. Đến ngày 26/5/2024, cả hai dọn về nhà bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969 và ông Lê Văn Á, sinh năm 1965 có địa chỉ ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang là cha mẹ ruột của P1 để sinh sống.
Trong thời gian về nhà của cha, mẹ P1 sống thì T2 có đi ra phía sau nhà và nhìn thấy phần đất dưới cái khạp đựng nước gần nhà vệ sinh có 01 cái hủ, bên trong hủ có 01 bịt nilon màu hồng và bên trong bịt nilon này có đựng nhiều vàng. Thúy biết đây là số vàng của bà N đem chôn cất giấu, nên T2 nảy sinh ý định trộm số vàng này. Đến khoảng 12 giờ ngày 12/6/2024, khi bà N và P1 không có ở nhà, còn ông A đang ngủ trưa trong nhà nên T2 đi đến chỗ chôn vàng này lấy hủ đựng vàng lên rồi kiểm tra có 08 nhẫn kim loại màu vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ/1 chiếc bên trong mỗi nhẫn có khắc “50 PHAN-NGOC 990"; 02 lắc kim loại màu vàng, mặt hoa văn hình bông hoa vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ/1chiếc; 01 đôi hoa đeo tai kim loại màu vàng loại vàng 24K có khắc “PN985” trọng lượng 01 chỉ; 01 dây chuyền kim loại màu vàng loại vàng 24K có mặt hình hoa trọng lượng 03 chỉ; 01 kiềng kim loại mạ màu vàng loại vàng 24K nứt gãy nhiều đoạn trọng lượng 02 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 11 chỉ. T2 lấy 04 nhẫn kim loại màu vàng bên trong mỗi nhẫn có khắc “50 PHAN-NGOC 990”, 02 lắc kim loại màu vàng, mặt hoa văn hình bông hoa và 01 chiếc hoa đeo tai kim loại màu vàng có khắc “PN985” bỏ lại vào trong hủ rồi đem đến phòng làm việc của T2 ở Phòng nghiệp vụ Nhà truyền thống Hội trường đa năng Trung tâm Văn hóa thông tin và truyền thông huyện C, tỉnh Tiền Giang cất giấu. Số vàng còn lại T2 bỏ vào bịt nilon màu hồng rồi đem cất giấu vào trong balo không còn sử dụng dùng để đựng những đồ vật dụng làm vườn của ông Á được để trong nhà vệ sinh gần đó. Đến ngày 17/6/2024, bà N phát hiện số vàng trên đã bị mất nên trình báo cơ quan Công an.
* Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Thu giữ trong balo được để trong nhà vệ sinh phía sau nhà của hộ ông Lê Văn Á tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang gồm:
- + 04 nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mỗi nhẫn có khắc “50 PHAN-NGOC 990".
- + 01 hoa đeo tai kim loại màu vàng có khắc “PN985”.
- + 01 dây chuyền kim loại màu vàng.
- + 01 dây chuyền kim loại màu vàng có mặt hình hoa.
- + 01 kiềng kim loại mạ màu vàng nứt gãy nhiều đoạn
- Thu giữ tại phòng làm việc của Phạm Thanh T tại Phòng nghiệp vụ Nhà truyền thống Hội trường đa năng Trung tâm Văn hóa thông tin và truyền thông huyện C, tỉnh Tiền Giang gồm:
- + 04 nhẫn kim loại màu vàng bên trong mỗi nhẫn có khắc “50 PHAN-NGOC 990".
- + 02 lắc kim loại màu vàng, mặt hoa văn hình bông hoa.
- + 01 hoa đeo tai kim loại màu vàng có khắc “PN985”
Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ tài sản trên cho bà N xong.
* Tại Bản kết luận định giá số 41/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thị xã C, tỉnh Tiền Giang xác định:
- - 08 chiếc nhẫn bằng vàng loại 24 Kara trọng lượng mỗi chiếc 05 chỉ, mặt bên trong mỗi chiếc có khắc “50 PHAN-NGOC 990” trị giá 291.600.000 đồng.
- - 02 hoa đeo tai bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng mỗi chiếc 0,5 chỉ, mỗi chiếc có khắc “PN985” trị giá 7.290.000 đồng.
- - 02 lắc bằng vàng loại 24 Kara mặt hoa văn hình bông hoa trọng lượng mỗi chiếc 02 chỉ trị giá 29.160.000 đồng.
- - 01 dây chuyền bằng vàng loại 18 Kara trọng lượng 10,054 chỉ trị giá 45.243.000 đồng
- - 01 dây chuyền bằng vàng lại 24 Kara có mặt dây chuyền hình bông hoa tổng trọng lượng 03 chỉ trị giá 21.870.000 đồng.
- - 01 kiềng bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng 02 chỉ trị giá 14.580.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là: 409.743.000 đồng.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 337/2024/KLGĐ ngày 28/8/2024 của Trung tâm P2 kết luận đối với Phạm Thanh T:
- - Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Giai đoạn trầm cảm vừa (F32.1-ICD10), giai đoạn bệnh tiến triển.
- - Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do giai đoạn bệnh tiến triển.
Cáo trạng số 97/CT-VKSTXCL ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Phạm Thanh T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Phạm Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo và chồng là anh Lê Thanh P1 có thống nhất gửi số vàng cưới cho bà Nguyễn Thị N cất giữ và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; điểm q, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 05 đến 06 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả lại bà Nguyễn Thị N nên không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh T có ý kiến cho rằng: Thống nhất về tội danh cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo mà phía đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ đã khắc phục hậu quả được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với mức hình phạt, bị cáo nhất thời phạm tội, mặc dù bị cáo có học vấn nhưng trình độ nhận thức pháp luật còn kém, bị cáo có giấy xác nhận đang nuôi con nhỏ, sau khi lấy được vàng không đem đi bán ngay mà còn giữ lại chứng tỏ bị cáo nhận thức được hành vi đó là không đúng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ Luật Hình sự.
Bị hại bà Nguyễn Thị N khai đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bị cáo bồi thường và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người liên quan anh Lê Thanh P1 khai anh là chồng của bị cáo T, là con của ông Lê Văn Á và bà Nguyễn Thị N. Anh có gửi cho bà N cất giữ số vàng riêng của anh là 01 dây chuyền bằng vàng loại 18 Kara trọng lượng 10,054 chỉ và vàng cưới là tài sản chung của anh và bị cáo T gồm: 02 hoa đeo tai bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng mỗi chiếc 0,5 chỉ; 02 lắc bằng vàng loại 24 Kara mặt hoa văn hình bông hoa trọng lượng mỗi chiếc 02 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng lại 24 Kara có mặt dây chuyền hình bông hoa tổng trọng lượng 03 chỉ và 01 kiềng bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng 02 chỉ. Việc anh gửi vàng cưới cho bà N được sự thống nhất của bị cáo T. Tất cả số vàng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu hồi và trao trả lại cho bà N nên anh không có yêu cầu gì chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt người liên quan ông Lê Văn Á nhưng trước đó ông Á đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 12/6/2024, tại hộ của ông Lê Văn Á và bà Nguyễn Thị N thuộc ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Phạm Thanh T đã có hành vi lén lút lấy trộm 08 chiếc nhẫn bằng vàng loại 24 Kara trọng lượng mỗi chiếc 05 chỉ là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà N và ông Á; 02 hoa đeo tai bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng mỗi chiếc 0,5 chỉ; 02 lắc bằng vàng loại 24 Kara mặt hoa văn hình bông hoa trọng lượng mỗi chiếc 02 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng loại 18 Kara trọng lượng 10,054 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng lại 24 Kara có mặt dây chuyền hình bông hoa tổng trọng lượng 03 chỉ và 01 kiềng bằng vàng lại 24 Kara trọng lượng 02 chỉ là tài sản đang thuộc quản lý hợp pháp của bà N, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 409.743.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi trộm cắp tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng do bản tính tham lam, lười biếng, muốn thụ hưởng mà không phải lao động nên đã thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo nêu trên là nguy hiểm đối với xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội và hiện tại bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm q, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mới phạm tội lần đầu, có nhân nhân tốt, hiện tại đang phải nuôi con nhỏ theo quyết định ly hôn của Tòa án, thiệt hại thực tế chưa xảy ra nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
- [5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả lại bà Nguyễn Thị N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra bị hại và người liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- [8] Xét, ý kiến và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đã khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Bởi lẽ, trong vụ án này, sau khi trộm được tài sản, bị cáo vẫn còn giữ lại tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ trao trả lại tài sản cho bị hại nên thiệt hại thực tế chưa xảy ra nên không thể xem bị cáo đã khắc phục hậu quả. Xét, ý kiến và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về các vấn đề còn lại là có căn cứ một phần.
- [9] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; điểm q, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
Buộc bị cáo Phạm Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, anh Lê Thanh P1, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người liên quan anh Lê Thanh P1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người liên quan ông Lê Văn Á được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong 15 ngày được tính kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
Dương Thị Hằng N1 |
* Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tiền Giang;
- - VKSNDTXCai Lậy;
- - Cơ quan THADSTXCai Lậy;
- - Bị cáo;
- - Bị hại;
- - Người liên quan;
- - Lưu hồ sơ, án văn.
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh T bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 173
