Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2024

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Hồ Mỹ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lý Thị Kim Hân
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 412/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 868/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 372/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1979.

ĐKTT: 318 ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Lương Thị Mộng T, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: 2 M, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/05/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của nguyên đơn Nguyễn Văn H:

Về hôn nhân: ông Nguyễn Văn H và bà Lương Thị Mộng T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng kí kết hôn vào ngày 11/01/2021, Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2021 tại UBND xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng sau đó quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm không thể hàn gắn, nên ông Nguyễn Văn H xin được ly hôn với bà Lương Thị Mộng T.

Về con chung: không có

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn bà Lương Thị Mộng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến tòa nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà T được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện ban đầu và yêu cầu Hội đồng xét xử vắng mặt đối với bị đơn Lương Thị Mộng T.

Vụ án được đưa ra xét xử. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ly hôn và đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn nên Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn Lương Thị Mộng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

  1. Về thẩm quyền: ông Nguyễn Văn H và bà Lương Thị Mộng T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, ông H và bà T phát sinh mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và ông H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”, vì bà T có đăng ký địa chỉ tạm trú tại phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về thủ tục tố tụng: bà Lương Thị Mộng T đã được Tòa án triệu tập hợp pháp nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bà T là phù hợp quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ hôn nhân: ông H và bà T tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn nên đây được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ông H và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các bên đương sự đến để hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án động viên đoàn tụ nhưng ông H vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn, chứng tỏ hôn nhân giữa ông H và bà T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và bà T cũng không đến tham dự các phiên hòa giải, phiên tòa chứng tỏ rằng bị đơn cũng không còn tha thiết gì về cuộc hôn nhân này.

    Xét quan hệ hôn nhân, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống, yêu thương, quan tâm nhau. Nhưng tình trạng hôn nhân của ông H và bà T không thể tiếp tục duy trì đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

  4. Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận không có con chung. Do xét xử vắng mặt bị đơn nên không đặt ra xem xét.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận không có tài sản chung và tài sản nợ. Do xét xử vắng mặt bị đơn nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
  6. Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo của các đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 57 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: cho ông Nguyễn Văn H ly hôn với bà Lương Thị Mộng T (giấy chứng nhận kết hôn 05/2021, do Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ cấp ngày 11/01/2021)
  2. Về con chung: Nguyên đơn xác định không có, do xét xử vắng mặt bị đơn nên không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn xác định không có, do xét xử vắng mặt bị đơn nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông Nguyễn Văn H nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0001807 ngày 23/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND TP. Cần Thơ,

- VKSND Q. Ninh Kiều,

- THADS Q. Ninh Kiều,

- UBND xã N,

- Các đương sự,

- Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hồ Mỹ Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa ông H và bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger