TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Kim Thủy
Bà Đặng Hồng Luyến
— Thư ký phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1988 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Wen Shuang H, sinh năm 1955 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Ngõ C, hẻm B, đoạn 2, lộ T, khóm G, phường K, khu B, thành phố T, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Qua quen biết và tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Đ đã tự nguyện đi đến hôn nhân với ông Wen Shuang H và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 31 tháng 01 năm 2023. Sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Đ sang Đài Loan sinh sống cùng ông W Shuang Hsiung được một thời gian thì bà Nguyễn Thị Đ bị bệnh nên quay về Việt Nam sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng bà vẫn sống vui vẻ, hạnh phúc. Tuy nhiên, càng về sau hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm ngày càng trầm trọng. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu được ly hôn với ông Wen Shuang H.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đ với ông W Shuang Hsiung không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ với ông W Shuang Hsiung không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bà trong suốt quá trình vụ án.
Bị đơn ông Wen Shuang H có văn bản trình bày ý kiến thể hiện: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Đ về quan hệ hôn nhân cũng như con chung, tài sản chung và nợ chung. Trong cuộc sống hôn nhân ông Wen Shuang H và bà Nguyễn Thị Đ không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn thì ông Wen Shuang H đồng ý. Ông Wen Shuang H có đơn xin được vắng mặt trong tất cả các giai đoạn giải quyết của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ thường trú tại huyện V, tỉnh Hậu Giang khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Wen Shuang H có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan). Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Wen Shuang H có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Đ đã được Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Wen Shuang H đã có văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Xét thấy, nguyên đơn, bị đơn có lời trình bày đầy đủ, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải quyết vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn ông Wen Shuang H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang. Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn ông Wen Shuang H được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Sau khi kết hôn nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện tại, bà Nguyễn Thị Đ và ông Wen S Hsiung sống hai nơi khác nhau, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Nguyễn Thị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Wen Shuang H. Bị đơn ông Wen Shuang H đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Wen Shuang H đã không còn cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Wen Shuang H.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Wen Shuang H khai không có, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Wen Shuang H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí ủy thác tư pháp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 35, 37, 147, 227, 228, 470, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 122, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng các Điều 27, 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với bị đơn ông Wen Shuang H.
- Về con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn ông Wen Shuang H khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn ông Wen Shuang H khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0000146 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Chi cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn là người Việt Nam ly hôn với người Đài Loan
