TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 5 – 2024
V/v xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn
- Ông Huỳnh Minh Bền
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị O, sinh năm 1991. Địa chỉ nơi cư trú: Áp X, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987. Địa chỉ nơi cư trú: Hẻm T, Nguyễn T, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị O trình bày:
Về hôn nhân: Chị Ngô Thị O và anh Nguyễn Văn M chung sống như vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 51/2009, ngày 06/4/2009. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cự cải nhau nhiều lần, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị O và anh M đã sống ly thân từ tháng 01/2015 đến nay nên chị O xin được ly hôn với anh M.
Về con chung: Có hai người con tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 27/08/2009 và Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 26/4/2012 đang sống với chị O. Khi ly hôn, chị O yêu cầu được nuôi hai con; không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị O xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Văn M, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh M không nhận và không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Chị Ngô Thị O có đơn yêu cầu không hòa giải vụ án, nên vụ án không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án mà đưa vụ án ra xét xử là đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Nguyễn Văn M được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng anh M không nhận văn bản tố tụng và vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
- Về nội dung tranh chấp được xác định là tranh chấp xin ly hôn. Chị Ngô Thị O và anh Nguyễn Văn M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 51/2009, ngày 06/4/2009 nên hôn nhân của chị O và anh M được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Chị O cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị O và anh M đã sống ly thân từ tháng 01/2015 đến nay, nên chị O xin được ly hôn với anh M. Đối với anh Nguyễn Văn M, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh M không nhận các văn bản tố tụng và không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị O là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị O và anh Nguyễn Văn M có nhiều mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên lời trình bày và yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị O là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về con chung: Có hai người con tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 27/08/2009 và Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 26/4/2012 đang sống với chị O. Khi ly hôn, nguyện vọng của của cháu C và cháu M1 là muốn được sống với chị O. Xét thấy: Việc giao cháu C và cháu M1 cho chị O tiếp tục nuôi là phù hợp với nguyện vọng của các con, phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn đời sống, sinh hoạt và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các con. Do đó, giao hai con cho chị O nuôi là phù hợp.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị O không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị O xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình chị Ngô Thị O phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 27/08/2009 và Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Ngô Thị O trực tiếp nuôi.
- Anh M được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Ngô Thị O phải chịu 300.000 đồng. Ngày 25 tháng 03 năm 2024, chị Ngô Thị O đã dự nộp 300.000 đồng tại lai số 0008303 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được giữ y sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị O có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Linh |
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
