Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 – 11 – 2024.

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • - Ông Phạm Ngọc Minh
    • - Ông Lê Quang Chính
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, về việc tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXX-ST, ngày 18-10-2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 84/2024, ngày 04/11/2024 giữa.

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H - sinh năm: 1987 (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1 - sinh năm 1986 (vắng mặt),

Cùng địa chỉ: N, P, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà H trình bày: Bà H, ông H1 tự tìm hiểu về sống với nhau năm 2018, hai bên gia đình đồng ý có tổ chức lễ cưới và có đến UBND xã P đăng ký kết hôn,

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến tháng 5 năm 2023 xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H1 thường đi nhậu về chưỡi mắng, đánh đập vợ con, vì con bà H cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng ông H1 tính nào tật ấy vẫn tiếp tục hành hung bà H nên xáy ra mâu thuẫn trầm trọng, sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay.

Nay bà H xét thấy tình cảm giữa bà với ông H1 không còn bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H1.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia H2, sinh ngày 09/12/2019 hiện nay ông H1 đang nuôi, bà H yêu cầu được nuôi con chung và bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bà H tha thiết yêu cầu được nuôi con và bà H cung cấp thêm thông tin: Bà công tác tại cơ quan nhà nước có mức lương ổn định 11.000.000 đồng /tháng, nhà mẹ bà H là nơi bà H ở nhờ gần nhà ông H1 ở, về chăm sóc con chung bà H là người trực tiếp cho con ăn uống, chi tiền cho con đi gửi nhà trẻ và là người hàng đêm dạy con khi ông H1 đi nhậu để con ở nhà và bà H còn cho biết: có khi ông H1 chở con đi nhậu chín, mười giờ đêm mới về ít quan tâm đến con làm cho sức khoẻ của con bị sa sút.

Đối với bị đơn: Toà án tống đạt các văn bản theo thủ tục tố tụng bị đơn không có mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn ông H1.

Về con chung: Đề nghị buộc ông H1 giao 01 con chung cho bà H trực triếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"

[2] Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Thanh H1 tự tìm hiểu về chung sống có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn năm 2018 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến tháng 5 năm 2023 xảy ra xích mích không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng sống ly thân từ tháng 7 năm 2024, không quan tâm đến nhau, không có trách nhiệm với nhau.

Nay bà H xét thấy tình cảm giữa bà với ông H1 không còn, bà yêu cầu được ly hôn ông H1.

Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết bà H, ông H1 sồng ly thân.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông H1 cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H xin ly hôn ông H1 là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

[4] Xét về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia H2, sinh ngày 09/12/2019 hiện nay ông H1 đang nuôi và bà H cũng yêu cầu được nuôi con chung,

Xét về trách nhiệm đối với con chung: Trong quá trỉnh giải quyết Toà án có gửi các thông báo theo thủ tục tố tụng để ông H1 trình bày nguyên vọng và yêu cầu của ông về con chung, nhưng ông H1 không có mặt, chứng tỏ ông H1 tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông được pháp luật quy định.

Tại phiên toà bà H tha thiết yêu cầu được nuôi con, bà H cho biết: Bà công tác tại cơ quan nhà nước có mức lương ổn định, bà đang ở nhà mẹ bà, do nhà mẹ bà và nhà ông H1 ở hiện nay gần nhau nên sáng bà là người lo cho cháu H2 ăn uống gửi nhà trẻ chiều ông H1 là người đón cháu H2 về.

Đối với các khoản chi phí gửi nhà trẻ, ăn uống và các khoản chi phí khác đối với cháu H2 bà H là người chi trả.

Xét về thu nhập: Bà H có mức lương ổn định mỗi tháng 11.000.000 đồng mặc dù bà H, ông H1 không còn sống chung, nhưng bà H vẫn có trách nhiệm chăm sóc con chung hằng ngày khi bà có mặt ở nhà, dạy dỗ con chung hàng đêm và chịu các khoản chi phí để nuôi con, còn ông H1 không chứng minh được trách nhiệm của ông đối với con chung, không chứng minh được thu nhập ổn định của ông hàng tháng và ông H1 có dấu hiệu bạo lực gia đình.

Xét con chung con còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ để phát triển bình thường và khỏe mạnh hơn, từ khi bà H bỏ về nhà cha, mẹ bà ở nhưng bà luôn quan tâm và có trách nhiệm đối với con chung. nên Hội đồng xét xử giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 09-12-2019 là phù hợp với lợi ích hợp pháp về mọi mặc của cháu H2.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do bà H không yêu cầu cấp dưỡng.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

[7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí".

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn ông Nguyễn Thanh H1.

Về con chung: Buộc ông Nguyễn Thanh H1 giao cho bà Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Gia H2, sinh ngày 09-12-2019 (Do hiện nay con chung ông H1 đang nuôi),

Ông Nguyễn Thanh H1 có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, bà Nguyễn Thị Hồng H là người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004505 ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho người có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/11/2024). Riêng bị đơn được tính từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng.

- Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - THADS huyện N;
  • - UBND xã P (để biết);
  • - Các đương sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger